Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - c. Cảnh đời xưa


2. Cảnh đời xưa

Tân Giá Nương – Vương Kiến [TGN]

Tam nhật nhập trù hạ,
Tẩy thủ tác canh thang.
Vị am cô thực tính,
Tiên khiển tiểu cô thường.

新 嫁 娘 – 王建

三 日 入 櫥 下,
洗 手 作 羹 湯,
未 諳 姑 食 性,
先 遣 小 古 嘗。

Ba ngày mới xuống nhà sau,
Rửa tay làm bát canh rau trổ tài.
Chẳng hay mẹ thích mặn cay ?
Nhờ ai nếm trước cho hay biết chừng.
(Cô dâu mới – LHP phóng tác)


Một bài thơ bình dị, âm điệu dồi dào, không tả cảnh chỉ nói lên một tâm trạng của thiếu nữ mới về nhà chồng. Đọc lại bài thơ này ta thấy một cảm giác nhẹ nhàng về tôn tư trật tự của gia phong nho giáo ngày xưa – xuất giá tòng phu – hình ảnh một người con gái vừa về nhà chồng cố gắng cố hòa nhập và làm chiều lòng gia đình chồng. Xã hội phong kiến ngày xưa đã đặt ra qui luật cho người phụ nữ qua câu nói cổ: “sống quê cha, ma quê chồng”.

oOo

Đề tích sở kiến xứ – Thôi Hộ [ĐTSKX]

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

題都城南莊 – 崔護

去年今日此門中,
人面桃花相映紅。
人面不知何處去?
桃花依舊笑春風。

Năm ngoái ngày này tại cửa đây,
Hoa đào, người đẹp mặt đỏ hây,
Dung nhan người cũ nơi đâu nhỉ?
Cành đào trước gió vẫn cười say !
(Năm ngoái nơi này – LHP phóng tác)

Chỉ có bốn câu 28 chữ, bài thơ này kể lại một chuyện tình đẹp như trong cổ tích thần tiên: Thôi Hộ là một người đẹp trai, một ngày thanh minh đi chơi phía nam kinh thành thấy một nhà một nhà có vườn đào hữu tình mới vào xin nước uống. Tại cổng nhà, một người con gái rất đẹp ra hỏi danh tánh rồi đem nước mời uống. Năm sau cũng vào tiết thanh minh, Thôi Hộ đến nhà ấy nhưng thấy cửa đóng mới làm bài thơ này và để lại trên cửa. Sau đó vài ngày, Thôi Hộ trở lại chợt nghe tiếng khóc và có một ông lão hỏi: Anh có phải là Thôi Hộ không? Con gái tôi đọc bài thơ anh rồi nhịn ăn mới chết. Thôi Hộ vào khấn, thì nguời con gái đó sống lại, bèn lấy làm vợ. Sau này Thôi Hộ đỗ tiến sĩ về đời Trinh Nguyên, làm quan đến chức Lĩnh nam tiết độ sứ [ĐT, pp 449-450]

oOo

Y Châu Ca – Cáp Gia Vận [YCC]

Đả khởi hoàng oanh nhi,
Mạc giao chi thượng đề.
Đề thời kinh thiếp mộng,
Bất đắc đáo Liêu tây.


伊州歌 – 蓋嘉運

打起黄鶯児,
莫教枝上啼。
啼時驚妾夢,
不得至遼西。

Đánh đi chim én hoàng oanh,
Đừng cho nó hót trên cành cây cao,
Làm cho tỉnh mộng chiêm bao,
Để hồn thiếp chẳng tìm vào Liêu Tây.
(Bài ca Y Châu – LHP phóng tác)


Bài thơ tả cảnh đau khổ của người vợ vì chồng làm lính đi xa. Nỗi thất vọng của người thiếu phụ vì tiếng hót của chim oanh làm nàng tỉnh giấc mộng đi tìm và gặp chồng làm lính ở Liêu Tây.

oOo

Mạch thượng tặng mỹ nhân – Lý Bạch [MTMN]

Tuấn mã lưu hành đạp lạc hoa,
Thùy tiên trực phất ngũ vân xa.
Mỹ nhân nhất tiếu khiên châu bạc,
Dạo chỉ hồng lâu thị thiếp gia.

陌上贈美人 – 李白

駿馬驕行踏落花,
垂鞭直拂五雲車。
美人一笑褰珠箔,
遙指紅樓是妾家。

Tuấn mã phi hành tung xác hoa,
Ra roi lướt đuổi gần vân xa.
Mỹ nhân vén sáo vui cười chỉ:
“Lầu hồng nhà thiếp chỗ đằng xa”
(Tặng mỹ nhân trên xa lộ – LHP phóng tác)


Trong thời đại của Lý Bạch ở thế kỷ thứ 8, ta đã thấy một thái độ phóng túng của dân chơi – phong cách chơi của dân cô cậu chẳng gì thay đổi hơn một ngàn năm! Chàng thanh niên quí tộc muốn làm quen với mỹ nhân nên cho tuấn mã (sport convertible thời nay) chạy rất nhanh để đuổi kịp ngũ vân xa (limosine) của người thiếu nữ. Chàng thanh niên dân chơi ngạo nghễ quất roi vào vân xa để gây sự chú ý để tỏ tình và được nàng chấp nhận một cách bạo dạn: “Mỹ nhân vén sáo vui cười chỉ: Lầu hồng nhà thiếp chỗ đằng xa”.

oOo

Oán tình – Lý Bạch [OT]

Mỹ nhân quyển châu liêm,
Thâm tọa tần nga mi.
Đãn kiến lệ ngân thấp,
Bất tri tâm hận thùy.

怨情 – 李白

美人捲珠簾,
深坐蹙蛾眉。
但見淚痕濕,
不知心恨誰。

Người tiên vén bức rèm châu,
Ngồi lâu ủ rũ buồn chau mày ngài,
Lệ đâu chỉ thấy tuôn dài,
Làm sao hiểu được lòng này giận ai ?
(Oán tình – LHP phóng tác)


Bốn câu thơ như là một bước chân dung kiệt tác của một mỹ nhân giận hờn nhưng có một vẻ đẹp độc đáo riêng.

oOo

Kim lũ y – Đỗ Thu Nương [KLY]

Khuyến quân mạc tích kim lũ y,
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.
Hoa khai kham chiết, trực tu chiết,
Mạc đãi vô hoa không chiết chi.

金縷衣 – 杜秋娘

勸君莫惜金縷衣,
勸君惜取少年時。
花開堪折直須折,
莫待無花空折枝。

Khuyên anh đó, áo thêu chớ tiếc,
Có tiếc chăng tiếc thuở xuân xanh,
Bẻ hoa lúc nở trên cành,
Chớ chờ hoa rụng, trơ cành bẻ chi?
(Áo kim tuyến – LHP phóng tác)


Kim lũ y là tựa của bài thơ cũng là tên của một điệu nhạc cổ. Đời người lúc đang thời ta hãy tận hưởng sự trẻ trung và vẻ xinh đẹp, như cánh hoa đang nở trên cành khoe khoang hương sắc cho người thưởng thức, ta đừng chờ đến lúc cành trơ mà nghĩ đến việc bẻ hoa thì còn gì mà bẻ?

oOo

Khuê oán – Vương Xương Linh [KO]

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu.
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phụ tế mịch phong hầu.

閨怨 – 王昌齡

閨中少婦不知愁,
春日凝妝上翠樓。
忽見陌頭楊柳色,
悔教夫婿覓封侯。

Lầu son thiếp biết chi sầu,
Ngày xuân trang điểm, bên lầu soi gương,
Chợt nhìn cành liễu bên đường,
Tiếc chàng mãi chốn sa trường tìm danh.
(Lời oán khuê nữ – LHP phóng tác)

Câu một: tả về cảnh người thiếu phụ trong khuê phòng đang tuổi thanh xuân với cảnh lầu son, dư thừa về vật chất và bấy lâu chẳng biết lo lắng gì.

Câu hai: Một ngày xuân, nàng trang điểm bên lầu. Đây là lối tả cái phong thái của người đài các ngày xưa: nhàn rỗi khoan thai mà biểu hiện vẻ đẹp duyên dáng sang trọng.

Câu ba: Bổng chợt nàng thấy màu sắc của cành liễu bên đường. Từ chốn lầu son nhung lụa bất tri sầu đến hốt kiến một cảnh đẹp mùa xuân trên đời – cây dương liễu đua sắc xanh biếc – nàng mới bắt đầu tri sầu. Từ tâm trạng vô tư, bất chợt lòng biết buồn.

Câu bốn: nàng mới hối hận xui người chồng tòng quân để tìm công hầu khanh tướng. Có câu “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?” – mặc dù là cảnh mùa xuân rực rỡ đẹp đẽ – thật là đúng vậy. Đọc lại bài thơ này tôi liên tưởng đến lời nhạc của một bài hát cách đây mấy mươi năm trước: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng, thì đời còn mưa bay gió cuốn, còn nhiều anh ơi!” (1).

Trong bốn câu chẳng có câu nào đề cập đến oán mà người đọc ngầm hiểu được cái oán của người khuê nữ.

(1) “Chiều mưa biên giới”, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

oOo

Tự quân chi xuất hĩ kỳ 2 – Trương Cửu Linh [TQCXHK2]

Tự quân chi xuất hĩ,
Bất phục lý tàn ky.
Tư quân như mãn nguyệt,
Dạ dạ giảm quang huy.

自君之出矣其二 – 張九齡

自君之出矣,
不复理殘機。
思君如滿月,
夜夜減清輝。

Từ thuở chàng ra đi,
Khung cửi chẳng màng chi.
Nhớ chàng như trăng sáng,
Đêm tàn giảm ánh quang.
(Từ ngày chàng đi – LHP phóng tác)

Đọc bài thơ này tôi nghĩ đến bốn câu thơ đầu của một bài thơ cùng tên của Cao Bá Quát sau đây

Tự quân chi xuất hĩ – Cao Bá Quát [TQCXH]

Tự quân chi xuất hĩ,
Dạ dạ thủ không sàng.
Hải nguyệt chiếu cô mộng,
Giang phong sinh mộ lương.


自君之出矣 – 高伯适

自君之出矣
夜夜守空床
海月照孤夢
江風生暮涼

Từ ngày anh cất bước đi,
Đêm đêm giường trống, nằm thì chẳng yên.
Trăng khơi soi giấc mộng riêng,
Chiều sương sông gió, ưu phiền mình em.
(Từ ngày chàng ra đi – LHP phóng tác)

Cả hai bài thơ đều tả cảnh ban đêm người vợ nhìn ánh trăng mà nhớ đến người chồng đi xa. Một bài tả về cảnh từ lúc người chồng đi xa, nàng không màng khung cửi, đêm đêm nhìn ánh trăng từ lúc trăng tỏ cho đến lúc trăng mờ gần sáng, mỏi mòn vì nhớ chồng. Bài kia tả về cảnh cô phòng, người thiếu phụ nhìn bóng trăng và gió sông lạnh lẽo mà buồn phiền nghĩ đến chồng.

oOo

Tầm ẩn giả bất ngộ – Giả Đảo [TAGBN]

Tùng hạ vấn đồng tử,
Ngôn sư thái dược khứ.
Chỉ tại thử sơn trung,
Vân thâm bất tri xứ.

尋隱者不遇 – 賈島

松下問童子,
言師採藥去。
只在此山中,
雲深不知處。

Dưới thông hỏi đứa tiểu đồng,
Thưa: “Thầy hái thuốc nên không có nhà,
Chỉ quanh trong núi đâu xa,
Mây dầy che khuất biết là nơi đâu ?”
(Tìm ẩn sĩ không gặp – LHP phóng tác)

Bài thơ như chép lại lời đối thoại giữa người khách phương xa và đứa tiểu đồng của người ẩn sĩ. Lời văn như lời bạch thoại nhưng có âm điệu dồi dào và tả cảnh sinh hoạt như là tiên cảnh: vị lương y đi hái thuốc trên núi mây che mù mịt.