Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - d. Cảnh thiên nhiên


3. Tả cảnh thiên nhiên

Phong Kiều Dạ Bạc – Trương Kế [PKDB]

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô tô thành ngoại Hàn-san tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

楓橋夜泊 – 張繼

月落烏啼霜滿天,
江楓漁父對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。

Sương trời, trăng lặn, quạ kêu,
Lửa chài sông gió, đối điều niềm riêng.
Cô tô ghé bến du thuyền,
Nửa đêm văng vẳng chuông thiền Hàn sơn.
(Đêm khuya bến Phong Kiều – LHP phóng tác)


Bài tứ tuyệt Phong Kiều Dạ Bạc rất nổi tiếng vì có âm điệu rất hay. Bài thơ tả nỗi  lòng của một người du khách nửa đêm nằm trên thuyền, đậu trên bến Phong Kiều, nghe tiếng chuông chùa Hàn-san vọng từ xa. Có người bàn là ngôi chùa trong bài thơ ở trên núi (vì tên chùa là Hàn san – núi lạnh); thật ra, chùa Hàn-san ở ngoài thành Cô Tô (thành Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô gần thành phố Thượng Hải) bên dòng sông Trường Giang.

oOo

Vọng Lư sơn bộc bố – Lý Bạch [VLSBB]

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

望廬山瀑布 – 李白

日照香爐生紫煙,
遙看瀑布掛前川;
飛流直下三千尺,
疑是銀河落九天。

Nắng chiếu Hương Lô tia khói bay,
Nhìn xa tuởng thác treo sông đầy.
Nước bay chảy thẳng ba ngàn thước,
Ngỡ Ngân Hà thủng chín từng mây.
(Ngắm thác Lư Sơn – LHP phóng tác)


Câu một tả cảnh núi Hương Lô gần núi Lư ở tỉnh Giang Tây. Tên núi gọi là Hương Lô vì núi giống như là núi cao có mây khói (yên) chung quanh như hình cái lò (lô) hương đang tỏa khói.

Câu hai tả cảnh hùng vĩ của núi mà nhìn từ xa tưởng như là thác nước treo (quải) trước dòng sông (xuyên) trước (tiền) núi Lư sơn.

Câu ba: tả cảnh nước thác chảy như bay (phi lưu) thẳng xuống (trực há) ba ngàn thước (tam thiên xích).

Câu bốn: nếu tả cảnh nước rơi ba ngàn thước trên không chưa gây ra ấn tượng cho người đọc, tác giả lại dùng ẩn dụ cho là như giải Ngân Hà trên thiên đình trút nước qua chín từng mây và đổ xuống thác Lư Sơn. Đó là một cách thần thánh hóa một tuyệt cảnh.

Bút pháp tả cảnh biến hóa và độc đáo của Lý Bạch – từ cảnh tĩnh của một ngọn núi với tia khói bay, rồi tăng cường độ cho là dòng thác treo đổ nước, rồi dồn dập đến cái động là nước bay thẳng từ ba ngàn thước và cách kết cuộc bằng một climax với cách ví dụ cho là nước chảy từ giải Ngân Hà trên thiên đình xuống thế gian.

oOo

Túc Kiến Đức Giang – Mạnh Hạo Nhiên [TKĐG]

Di chu biệt yên chử,
Nhật mộ khách sầu tân.
Dã không thiên đê thụ,
Giang thanh nguyệt cận nhân.

宿建德江 – 孟浩然

移舟泊煙渚,
日暮客愁新。
野曠天低樹,
江清月近人。

Dời thuyền đậu bến sương mù,
Chiều hôm tức cảnh, lòng u ẩn sầu.
Đồng sâu, trời xuống ngọn cây,
Nước sông xanh ngát, trăng vây quanh người.
(Ở Kiến Đức Giang – LHP phóng tác)


oOo

Giang hành, vô đề – Tiền Khởi [GHVĐ]

Thụy ổn diệp chu khinh,
Phong vi, lãng bất kinh.
Nhậm quân lô vĩ ngạn,
Chung dạ động thu thanh.

江行無題 – 錢起

睡穩葉舟輕,
風微浪不驚。
任君蘆葦岸,
終夜動秋聲

Ngủ trên thuyền lá cỏn con,
Gió êm êm thổi hồn còn mộng mơ.
Mặc cho lau sậy bên bờ,
Cả đêm động đậy ca hò tiếng thu.
(Đi thuyền trên sông, không đề – LHP phóng tác)


oOo

Xuân hiểu – Mạnh Hạo Nhiên [XH]

Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đế điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu.

春曉 – 孟浩然

春眠不覺曉,
處處聞啼鳥。
夜來風雨聲,
花落知多少。

Giấc xuân chẳng biết sáng trời,
Bình minh chim hót muôn lời khắp nơi.
Đêm qua tiếng gió mưa rơi,
Ít nhiều hoa rụng tơi bời có hay?
(Buổi sớm mùa xuân – LHP phóng tác)


Cái cảm hứng mông lung của thi sĩ sau một đêm xuân trời mưa mát mẻ ngủ ngon. Sáng thức dậy, có lẻ là vì tiếng chim kêu rộn rã, mới nhớ đến trận mưa gió đêm trước mà chợt nghĩ đến hoa rơi lá rụng: “Đêm qua tiếng gió mưa rơi, ít nhiều hoa rụng tơi bời có hay?

oOo

Tảo khởi – Lý Thương Ẩn [TKhoi]

Phong lộ đạm thanh thần,
Liêm gian độc khởi nhân.
Oanh đề hoa lựu hiếu,
Tất cánh thị thùy xuân?


早起 – 李商隱

風露澹清晨,
簾間獨起人。
鶯花啼又笑,
畢竟是誰春。

Gió êm sảng khoái tâm thần,
Sáng nay thức dậy một thân bên rèm.
Hoa cười chim hót ngóng xem,
Cảnh xuân một vẻ ai đem cho đời?
(Dậy sớm – LHP phóng tác)


oOo

Giang tuyết – Liễu Tông Nguyên [GT]

Thiên sơn điểu phi tuyệt,
Vạn kinh nhân tung diệt.
Cô chu thôi lạp ông,
Độc điếu hàn giang tuyết.

江雪 – 柳宗元

千山鳥飛絕,
萬徑人蹤滅。
孤舟簑笠翁,
獨釣寒江雪。

Chim bay ngàn núi khuất trời,
Đường đi muôn nẻo dấu người vắng tanh.
Ngư ông nón lá thuyền chành,
Một mình câu cá trên dòng tuyết sông.
(Sông tuyết – LHP phóng tác)


Đây là tả cảnh thưa vắng, trống trải của cảnh chiều tàn lạnh giá. Cảnh chim bay về núi đằng sau bầu trời bao la và đường xá thưa thớt không bóng dáng người. Từ bối cảnh vắng vẻ đó, tác giả mới tập trung vào cảnh thanh tịnh của ông lão câu cá một mình trên con thuyền con bên dòng sông đã đóng thành băng tuyết. Cảnh trong bài thơ này được tả theo nghệ thuật thiền (Zen art) dựa vào cảnh yên tĩnh (tranquillity) và sự đơn giản (simplicity).

oOo

Trúc lý quán – Vương Duy [TLQ]

Độc tọa u hoàng lý,
Đàn cầm phục trường khiếu.
Thâm lâm nhân bất tri,
Minh nguyệt lai tương chiếu.

竹里館 – 王維

獨坐幽篁裡,
彈琴復長嘯。
深林人不知,
明月來相照。

Ngồi một mình kề bên khóm trúc,
Gảy đàn rồi có lúc hát ca,
Rừng sâu chẳng kẻ biết ta,
Ánh trăng sáng tỏ, chiếu sa vào người.
(Bên khóm trúc – LHP phóng tác)

oOo

Ðăng U Châu Ðài Ca – Trần Tử Ngang [ĐUCĐC]

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế hạ.

Người xưa, nhìn trước chẳng ai,
Nhìn sau, thấy chẳng vãng lai người nào.
Gẫm hay đất rộng trời cao,
Bỗng nhiên dòng lệ tuôn trào mình ta.
(Bài hát lên đài U Châu – LHP phóng tác)


Bài thơ ghi lại cảm nghĩ của tác giả khi lên đài tưởng niệm ở U Châu (tên cũ của Bắc Kinh bây giờ) với một nỗi buồn vạn kỷ của thi gia trước lịch sử (thời gian) và cảnh trời đất (không gian): Nhìn lại phía trước, không thấy bóng dáng người xưa. Trông về sau chẳng thấy người lui lại. Ngẫm nghĩ lại mới biết trời đất xa xôi thăm thẳm và một mình tự dưng bùi ngùi rơi lệ.

oOo

Đào hoa khê – Trương Húc [ĐHK]

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên,
Thạch cơ tây bạn vấn ngư thuyền.
Đào hoa tận nhật tùy lưu thuỷ,
Động tại thanh khê hà xứ biên.

桃花溪 –張旭

隱隱飛橋隔野煙,
石磯西畔問漁船。
桃花盡日隨流水,
洞在清溪何處邊。

Cầu treo cách khói sương dầm,
Dừng bên bờ đá hỏi thăm ghe chài,
Hoa trôi nước chảy suốt ngày,
Lần theo khe suối, động này nơi đâu ?
(Khe Đào hoa – LHP phóng tác)

Bài thơ tả cảnh vất vả đi tìm động tiên ở khe suối Đào hoa: cảnh cầu treo qua sông nhiều khói sóng, khách phải dừng thuyền để hỏi thăm đường đi tìm động. Thuyền chèo cả ngày chỉ thấy cánh hoa đào trôi theo dòng nước, mà chẳng biết động ở nơi nào. Đã là tiên động thì không đễ gì mà tìm ở chốn trần gian. Mới biết đoạn sông bên khe suối trên đường đi tìm động quả thật là tiên cảnh – getting there is half of the fun!

oOo

Tuyệt Cú – Ðỗ Phủ [TCĐP]

Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên,
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Ðông Ngô vạn lý thuyền.

絕句 – 杜甫

兩個黃鸝鳴翠柳,
一行白鷺上青天。
窗含西嶺千秋雪,
門泊東吳萬里船。

Hai cánh oanh vàng tung liễu sắc,
Một hàng cò trắng ngút trời xanh.
Núi đỉnh tây, ngàn năm tuyết phủ,
Biển cửa đông, muôn dặm thuyền sang.
(Tuyệt Cú – LHP phóng tác)

Trong bài tứ tuyệt này, mỗi câu tả một cảnh khác biệt nhưng toàn bốn cảnh tả một chủ đề về cẩm tú sơn hà. Cả bốn câu trong bài thơ đều đối nhau cả – câu một đối với câu hai và câu ba đối với câu bốn. Đọc bài thơ này tôi liên tưởng đến bốn cảnh tiêu biểu Thiên Địa Sơn Hà trong chủ đề “nhất thi nhất họa” (một bức tranh một bài thơ), tương tự như bức tranh họa của Trung Hoa và Việt nam.

Câu một: cảnh đẹp trên đất liền (Địa), chim hoàng oanh tung cánh bên cành dương liễu tươi sắc.

Câu hai: cảnh đẹp trong bầu trời (Thiên): một đàn cò trắng bay thẳng lên bầu trời xanh ngát. Chim oanh vàng hót líu la, cành thúy liễu xanh biếc đầy màu sắc âm thanh vui tươi đối với cò trắng trong bầu trời xanh cũng đầy màu sắc của cảnh thiên nhiên trong bầu trời bao la.

Trong hai câu một và hai “lưỡng cá hoàng ly” (hai cánh oanh vàng) đối với “nhất hàng bạch lộ” (một hàng cò trắng) và tung liễu sắc đối với ngút trời xanh, đối nhau từng chữ.

Câu ba: cảnh núi (Sơn) hùng vĩ nhìn qua khung cửa sổ (song hàm) với quanh năm tuyết phủ từ ngàn xưa. Đó là một bức tranh thiên nhiên vô cùng xinh đẹp đóng khung bởi cửa sổ mà Đỗ Phủ cảm nhận được. Tây Lĩnh là chỉ núi Nga My (hay Đại Quang Minh sơn) là một ngọn núi nằm ở phía trung nam tỉnh Tứ Xuyên (đất Thục cũ).

Câu bốn: cảnh tấp nập thuyền bè của cửa sông (Hà) chảy ra biển (môn bạc – cửa mở). Cửa biển tại xứ Đông Ngô là chỉ cửa sông Dương Tử (thuộc tỉnh Giang Tô).

Trong hai câu ba và bốn, “Núi đỉnh tây” đối với “Biển cửa đông” về địa lý phong thủy (geomancy), còn “thiên thu” đối với “vạn lý” trong vũ trụ hai chiều (two dimensions) giữa thời gian (time) và không gian (space).

Đọc qua bài thơ, người ta nhận thấy cảnh đẹp thiên nhiên mà tâm hồn nhẹ nhàng phấn khởi như muốn bay thẳng lên trời xanh. Bốn câu thơ trên tạo thành một bức thi họa kiệt tác ! Quả thật đúng là “thi trung hữu họa” (trong thơ có tranh vẽ).

Trái lại bài Tuyệt cú ở trên, cũng một bài tứ tuyệt cùng tựa, lời thơ của Giả Đảo rất khiêm tốn mà dí dỏm

Tuyệt cú – Giả Ðảo [TCGĐ]

Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lưu
Tri âm như bất thưởng
Qui ngọa cố sơn thu

絕句 – 賈島

二句三年得,
一吟雙淚流。
知音如不賞,
歸臥故山秋。

Ba năm làm được hai câu,
Ngâm lên một giọng, lệ rơi hai hàng.
Tri âm nghe nếu chẳng màng,
Ta về núi cũ, thu vàng nằm co.
(Tuyệt cú, LHP phóng tác)


Câu một và hai: Chỉ hai câu thơ mà ròng rã ba năm mới làm được, tác giả ngâm lên một tiếng ưng ý, không cầm lòng được hai hàng lệ rơi tuôn trào.

Câu ba và bốn: Trong câu thứ ba, tri âm là tích từ truyện Bá Nha và Tử Kỳ (sách Lã Thị Xuân Thu) thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha là người giỏi chữ và có ngón đàn dao cầm tuyệt diệu nổi tiếng. Tử Kỳ thông thạo nhạc lý, chỉ nghe qua tiếng đàn mà thấu rõ lòng Bá Nha. Vì mến phục nhau mà hai người trở thành bạn và anh em kết nghĩa.

Hai câu thơ ròng rã ba năm mới làm ra được, thế mà người bạn hiền – tri âm – chưa chắc nghĩ là hay, thôi thì mùa thu sang ta về núi cũ mà nằm dài, để rồi… tìm cảm hứng và ý thơ mà làm thơ tiếp tục!

Bốn câu thơ trên mặc dù dùng sáo ngữ nhưng tạo cho người đọc đắn đo nghĩ ngợi. Người ta không khỏi tò mò muốn biết hai câu thơ này như thế nào mà tác giả phải mất tới ba năm và dầy công, lo lắng?

oOo

Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt – Vương Kiến [TNDVN]

Trung đình địa bạch thụ thê nha,
Lành lộ vô thanh thấp quế hoa.
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
Bất tri thu tứ tại thùy gia.

十五夜望月 – 王建

中庭地白樹棲鴉,
冷露無聲濕桂花。
今夜月明人盡望,
不知秋思落誰家。

Chim cành đất sáng giữa sân,
Sương rơi lặng lẽ ướt đầm hoa mai.
Người người thưởng nguyệt đêm nay,
Cảnh thu đâu chỉ riêng ai một nhà.
(Đêm rằm ngắm trăng, LHP phóng tác)

Cũng đề tài mùa thu, bài thơ tả cảnh trăng rằm – cảnh trăng sáng trữ tình chiếu lên cành hoa quế giữa sân. Bao nhiêu người thưởng thức trăng đêm nay và mới biết cảnh thu tuyệt vời đâu phải của riêng nhà nào. Ngụ ý của bài thơ là người ngắm ánh trăng thì nhiều mà người biết thưởng trăng đã dễ mấy ai?

Mùa thu lãng mạn và tao nhã đã tạo cảm hứng cho bao thi nhân. Vì thế mùa thu cũng là thời gian ẩn thân để sáng tác của thi sĩ – Ta về núi cũ, thu vàng nằm co. Mùa thu thơ mộng khiến người ta có nhiều tưởng tượng: chỉ nhìn một chiếc lá vàng rơi mà ai ai khắp nơi trong thiên hạ đều biết là thu đã về

“Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu (1)”

Ngô đồng một lá rơi bay,
Khắp nơi thiên hạ đã hay Thu về…
(LHP phóng tác)


(1). có bản chép Thiên hạ tận tri thu

oOo

Thu nhật hồ thượng – Tiết Oánh [TNHT]

Lạc nhật ngũ hồ du,
Yên ba xứ xứ sầu.
Phù trầm thiên cổ sự,
Thùy dữ vấn đông lưu.

秋日湖上 – 薛瑩

落日五湖遊,
煙波處處愁;
浮沈千古事,
誰與問東流 。

Chiều hôm du ngoạn ngũ hồ,
Nơi nơi khói sóng lòng khơi mối sầu.
Ngàn xưa chìm nổi về đâu,
Hỏi ai nước chảy giang đầu sang đông?
(Ngày thu dạo hồ – LHP phóng tác)


Câu một: bài thơ vô đề về cảnh ngày thu du ngoạn trên ngũ hồ, nhưng ngũ hồ là chỉ ở đâu ?

Theo ông Trần Trọng Kim [ĐT,p223], ngũ hồ có hai nghĩa: “Một là năm hồ ở nước Sở ngày xưa là Bà Dương hồ, Động Đình hồ, Sáo hồ, Thái hồ và Chung hồ. Hai là tên thường gọi Thái hồ ở khoảng tỉnh Giang Tô và Chiết Giang, vì hồ ấy có năm ngã như năm hồ họp nhau lại thành một”. Nhưng cũng trong sách [ĐT,p401], lại viết thêm: “cũng có khi nhà văn dùng ngũ hồ chỉ để nói ý chung về hồ mà thôi”.

Theo [BKTT]: “ngũ hồ là tên chung để chỉ Động Đình hồ và các hồ lớn lân cận. Theo sách "Tiều học kiểm châu" thì Ngũ Hồ gồm: Thái Hồ ở Hồ Châu, Xạ Dương hồ ở Sở Châu, Thanh Thảo hồ ở Nhạc Châu, Đan Dương hồ ở Nhuận Châu và Cung Đình hồ ở Hồng Châu”.

Như vậy ngũ hồ có thể là một trong ba hồ sau đây:
  • Động Đình hồ là hồ lớn nhứt và là hồ điều hòa cho sông Trường Giang. Diện tích hồ từ 2.820 km² có thể tăng lên 20.000 km² vào mùa lụt. Hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam được đặt tên dựa vào theo vị trí của 2 tỉnh này so với hồ. Hồ Bắc ở phía bắc và Hồ Nam ở phía nghĩa là phía nam Động Đình hồ.
  • Bà Dương hồ là hồ lớn thứ nhì (3.585 km²), hồ thông ra sông Trường Giang.
  • Thái Hồ là một hồ lớn thứ ba ở Trung Quốc (rộng 2.250 km²) ở đồng bằng sông Dương Tử, giữa biên giới 2 tỉnh Giang Tô và Chiết Giang.
Câu bốn: Tại sao tác giả có câu “Thùy dữ vấn đông lưu?” (Hỏi ai nước chảy giang đầu sang đông?). Trường Giang là con sông lớn nhứt bên Trung quốc (dài 6.300km) là chảy từ phía tây sang phía đông ra biển (Đông Hải). Trong văn chương Trung Quốc, Trường Giang được đề cập nhiều lần, con sông này chảy qua những đô thị lớn nhứt cuả Trung quốc từ tây sang đông:
  • Thành Đô – thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên
  • Trùng Khánh – thành phố trung ương, giáp các tỉnh Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Quý Châu, Hồ Nam Hồ Bắc
  • Nghi Xương, Sa Thị – tỉnh Hồ Bắc
  • Vũ Hán (do Hán Dương, Hán Khẩu và Vũ Xương hợp thành – thủ phủ tỉnh Hồ Bắc)
  • Cửu Giang – tỉnh Giang Tây
  • Tô Châu – thành phố tại lưu vực sông Dương Tử và trên bờ Thái Hồ thuộc tỉnh Giang Tô
  • Nam Kinh – thủ phủ tỉnh Giang Tô,
  • Thượng Hải – thành phố trung ương lớn nhứt, giáp Giang Tô và Chiết Giang
Ngũ hồ trong ý của bài thơ, có nhiều cảnh đẹp bên thành phố Tô Châu cổ kính tráng lệ, chính là chỉ Thái Hồ.