Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - e. Cảnh tiễn đưa


4. Cảnh tiễn đưa

Nam hành biệt đệ – Vi Thừa Khánh [NHBĐ]

Đạm đạm Trường giang thủy,
Du du viễn khách tình.
Lạc hoa tương dữ hận,
Đáo địa nhất vô thanh.

南行別弟 – 韋承慶

澹澹長江水,
悠悠遠客情。
落花相與恨,
到地一無聲。

Trường Giang nước chảy âu sầu,
Đường xa viễn khách càng sâu mối tình.
Hoa rơi như giận dữ mình,
Rã rời trên đất, lặng thinh bẽ bàng.
(Từ biệt em đi Lĩnh Nam – LHP phóng tác)

Câu một tả cảnh sông dài ảm đạm: điệp ngữ đạm đạm làm cho người đọc liên tưởng đến dòng nước sông Trường Giang (Chang Chiang – tức Dương Tử Yangtze) buồn bã thê lương. Câu hai tả tình của viễn khách mênh mông: đạm đạm (trong câu 1) được đối chiếu với du du (trong câu 2) càng làm hành trình của kẻ đi xa càng thấy xa xôi buồn bã...

Nếu hai câu đầu tả cảnh tổng quát cảnh sông dài âu sầu ảm đạm và mối tình sâu đậm của viễn khách, thì câu ba và bốn lại tả cảnh chi tiết đầy ấn tượng, dùng nhân cách hóa – cánh hoa rơi rụng buồn bã giận dữ trong cuộc chia ly. Đó là bút pháp tả từ cảnh bao la trời đất, rồi tới tả cảnh chấm phá tụ vào cánh hoa rơi sầu thảm để diễn tả nỗi buồn trong cuộc từ biệt.

Câu “Lạc hoa tương dữ hận”, khiến người đọc thấy được nỗi giận dữ của cánh hoa rơi tuyệt mạng, nhưng đến câu “Đáo địa nhất vô thanh” nghẹn ngào chẳng nói được tiếng nào mặc dù bão táp trong lòng. Âm điệu trầm bổng và tình ý thay đổi đột ngột chỉ qua hai câu thơ mười chữ! Vi Thừa Khánh vì bị cách chức đổi đi xa, mới mượn bài thơ tống biệt qua cánh hoa rơi mà nói lên sự uất ức của mình mà chẳng thố lộ được cùng ai. Văn chương Đường thi đã phát triển tột bựt về phong cách tinh luyện và âm điệu dồi dào.

oOo

Ngô trung tống Nghiêm Sĩ Nguyên – Lưu Trường Khanh [NTTNSN]

Tế vũ thấp y khan bất kiến,
Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh.
Nhật tà giang thượng cô phàm ảnh,
Thảo lục hồ nam vạn lý tình.

吳中送嚴士元 – 劉長卿

細雨濕衣看不見,
閑花落地聽無聲。
日斜江上孤帆影,
草綠湖南萬里情。

Mưa sương thấm áo mờ trông,
Hoa rơi lướt đất, nghe không tiếng thầm.
Đầu nguồn buồm lẻ chiều dần,
Hồ nam cỏ biếc muôn ngần tình xa.
(Tiễn Nghiêm Sĩ Nguyên tại đất Ngô – LHP phóng tác)

Tôi biết đến bài thơ này trong một chuyến du lịch Hà Nội và xem được một bài viết trên báo Tuổi Trẻ (số ngày 21-06-07) nói về một bài thi Hán văn trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông cho học sinh tại Bắc Kinh. Đã hơn mấy chục năm nay, lần đầu tiên chính quyền cộng sản Trung Quốc mới ra một đề tài thi bàn về hai câu Đường thi cũ của Lưu Trường Khanh (mà báo Tuổi Trẻ nói sai là của Lý Trường Khanh) mà đề tài không dính líu vì về chính trị và chương trình dạy Hán văn

Tế vũ thấp y khan bất kiến,
Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh.
(Mưa mong manh thấm áo nhìn không tỏ,
Hoa rụng đất nhẹ nhàng nghe không thấu)

Đề thi đòi hỏi học sinh bình luận về hai câu thơ trên trong bốn cách giải thích khác nhau
1.    đây là bài thơ ca ngợi về vẻ đẹp mùa xuân,
2.    “mưa mong manh”, “cánh hoa rụng”: đặc tả nổi cô đơn không người thấu hiểu,
3.    “nhìn không tỏ”, nghe không thấu không chỉ thái độ sống buông xuôi, mà thể hiện cách xử thế không màng danh lợi,
4.    quan niệm sống trong thơ không còn thích hợp với cuộc sống ngày nay.

Bốn câu thơ trên là câu 3 – 6 trích trong bài thất ngôn bát cú Ngô trung tống Nghiêm Sĩ Nguyên.

Xuân phong ỷ trạo Hạp Lư thành,
Thủy quốc xuân hàn âm phục tình.
Tế vũ thấp y khan bất kiến,
Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh.
Nhật tà giang thượng cô phàm ảnh,
Thảo lục hồ nam vạn lý tình.
Đông đạo nhược phùng tương thức vấn,
Thanh bào kim nhật ngộ nho sinh.

Gió xuân theo đến Ngô thành,
Tiết xuân trời lạnh gợi tình non sông.
Mưa sương thấm áo mờ trông,
Hoa rơi lướt đất, nghe không tiếng thầm.
Đầu nguồn buồm lẻ chiều dần,
Hồ nam cỏ biếc muôn ngần tình xa.
Lối đông ai thấy hỏi ta:
“Áo xanh nay gặp một nhà nho sinh.”
(Tiễn Nghiêm Sĩ Nguyên tại đất Ngô – LHP phóng tác)

Trong câu một, Hạp Lư thành là kinh đô của vua Hạp Lư nước Ngô thời Xuân Thu, bây giờ là thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tây.

Hai câu “Tế vũ thấp y khan bất kiến, Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh” (“Mưa mong manh thấm áo nhìn không tỏ, hoa rụng đất nhẹ nhàng nghe không thấu”) tả lên một nỗi lòng buồn bã lưỡng lự của kẻ tiễn bạn lên đường, khiến người đọc cảm nhận một nỗi buồn man mác của cuộc chia ly. Đoán ra mới hiểu được cảnh tiễn đưa ảm đạm khiến người trong cuộc không để ý đến cảnh vật chung quanh. Lưu Tường Khanh vì lòng quá buồn tiễn bạn không màng tới cơn mưa phùn ướt cả áo mình và dòng lệ tuôn tràn trên mắt nên không nhìn tỏ. Và lòng ông còn bịn rịn, bận bịu trong cảnh chia ly nên không nghe thấu được những cánh hoa bay rơi rụng nhẹ nhàng trên đất. Đó là một bút pháp ước lệ khiến người đọc suy nghĩ và tự có sự cảm nhận riêng.

Trong câu cuối “Thanh bào kim nhật ngộ nho sinh” (“Áo xanh hôm nay gặp một nho sinh.”), Lưu Trường Khanh khiêm tốn ví mình là người áo xanh (thanh bào) gặp vị nho sinh Nghiêm Sĩ Nguyên.

Trong khi câu thơ của Lưu Tường Khanh “Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh” đã để lại cho người đọc nỗi buồn nhẹ nhàng, thì Vi Thừa Khánh lại có hai câu “Lạc hoa tương dữ hận, Đáo địa nhất vô thanh” làm cho đọc giả bứt rứt với mối sầu ly biệt. Cùng tả đề tài tống biệt qua cảnh hoa rơi, hai tác giả có hai thủ pháp riêng biệt.

oOo

Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lý Bạch [HHLTMHN]

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

黃鶴樓送孟浩然之廣陵 – 李白

故人西辭黃鶴樓,
煙花三月下陽州。
孤帆遠影碧空盡,
惟見長江天際流。

Phía tây lầu Hạc bạn đi,
Tháng ba hoa khói hướng về Dương Châu.
Cánh buồm khuất bóng đàng sâu,
Nhìn Trường Giang chảy từ đâu lên trời.
(Tiễn Mạnh Hạo Nhiên từ lầu Hoàng Hạc – LHP phóng tác)


Hai câu đầu đề cập đến không gian (phía tây lầu Hạc vàng đi về Dương Châu) và thời gian (tháng ba cuối mùa xuân đầy hoa khói) của buổi tiễn đưa. Khung cảnh lầu Hoàng Hạc huyền thoại làm ta nhớ lại cánh hạc vàng bay đi mất về tiên cảnh không bao giờ trở lại trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc thứ,
Thử địa không dư Hoàng-hạc lâu.

(Người xưa cưỡi hạc về đâu?
Còn đây Hoàng Hạc một lầu vắng thưa.
LHP phóng tác)


Hai câu cuối tả cảnh cả bầu trời mênh mông mà cánh buồm lẻ loi (cô phàm) đã khuất và dòng sông Trường giang dài bất tận đã nhập thành với bầu trời từ phiá chân trời xa, cho nên mới thành câu tả cảnh: “Nhìn Trường Giang chảy từ đâu lên trời”. Hai câu này tả cảnh người ra đi trong khung cảnh trời sâu sông rộng, nhưng gợi ý về mối tình và tấm lòng ngổn ngang lẻ loi của người ở lại. Thơ tứ tuyệt quả là hàm súc, gợi tình, “ý tại ngôn ngoại”, lời ít ý sâu.

Trong thơ tứ tuyệt, người xưa đã dùng cách ẩn dụ (metaphor) để tả cảnh biệt ly: cảnh sông nước mênh mông buồn bả chảy đến tận trời, cánh hoa rơi rã rời trên đất, cánh buồm đơn chiếc khuất bóng bên chân trời…

oOo

Hoài thượng biệt cố nhân – Trịnh Cốc [HTBCN]

Dương tử giang đầu dương liễu xuân,
Dương hoa sầu sát độ giang nhân.
Sổ thanh phong địch li đình vãn,
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.

淮上別故人 – 鄭谷

揚子江頭楊柳春,
楊花愁殺渡江人;
數聲羌笛離亭晚,
君向瀟湘我向秦。

Tàn xuân cành liễu sông Dương,
Hoa buồn chết khách bên đường qua sông.
Chiều xa tiếng sáo bi phong,
Tiêu Tương bạn đến, ta trông cõi Tần.
(Trên sông Hoài từ giã bạn – LHP phóng tác)


Câu một và hai tả cảnh cây dương liễu nở hoa là lúc đã cuối xuân, hoa nở khiến người qua sông trông thấy mà lòng buồn chết được. Câu ba và bốn chuyển sang ý từ biệt là lúc nghe tiếng gió thổi như tiếng sáo vào lúc trời tối, mỗi người phải đi một hướng trên dòng Dương Tử – một người đi về hướng Sở (Tiêu Tương), người kia đi về đất Tần.

Trường giang là con sông dài nhứt của Trung quốc, đoạn cuối sông chảy qua Dương Châu (tỉnh Giang Tô, thành phố Nam Kinh cũng thuộc tỉnh Giang Tô) được gọi là Dương Tử giang. Tiêu Tương là sông Tiêu và sông Tương ở tỉnh Hồ Nam chảy vào Ðộng Đình hồ ở đất Sở [ĐT]. Tương giang là nhánh sông lớn của Trường giang còn Tiêu giang là nhánh sông chảy vào Tương giang.