Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - b. Lịch sử

II. Thơ Tứ Tuyệt

Mỗi bài tứ tuyệt dưới đây là mỗi câu chuyện ngắn được cô động và diễn tả một cách linh động lôi cuốn qua những vần điệu và lời thơ. Những bài thơ chọn lọc này bao gồm các đề tài: lịch sử, cảnh đời xưa, cảnh thiên nhiên, cảnh tiễn đưa, cảnh uống rượu, nỗi nhớ nhà và triết lý Phật học.

1. Lịch sử

Cai hạ – Trừ Tự Tôn [CH]

Bách chiến vị ngôn phi,
Cô quân kinh dạ vi.
Sơn hà ý khí tận,
Lệ tiễn mỹ nhân y.

垓城 – 儲嗣宗

百戰未言非,
孤軍驚夜圍。
山河意氣盡,
淚濕美人衣。

Đường đường trăm trận dọc ngang,
Thành vây đêm tối, bàng hoàng tàn quân.
Núi sông chí khí mất dần,
Lệ nàng ướt áo, ôi! lần biệt ly.
(Trận Cai Hạ – LHP phóng tác)


Đọc bài thơ này như xem lại mấy hồi cuối của truyện Hán Sở tranh hùng. Bài thơ như đã nói lại tâm tình của Hạng Vương trong trận đánh cuối cùng tại Cai Hạ.

Trong câu 1: Bách chiến vị ngôn phi – Trăm trận chiến, không phải nói. Dưới thời Hán Sở tranh hùng (221 – 202 TCN), Hạng Võ là một dũng tướng tài ba đánh đâu thắng đó.

Trong câu 2: Trong câu này, chỉ dùng năm chữ cô quân kinh dạ vi, ta thấy hiểu được ra cảnh quân Sở bị cô lập (cô quân), bao vây (vi) và sợ hãi (kinh) trong đêm tối (dạ) trong trận Cai Hạ. Năm 202 TCN, Hàn Tín là tướng soái của Hán Lưu Bang bao vây thành Từ Châu. Trận Cai hạ đã kết thúc thời kỳ giao tranh hai bên Hán và Sở. Trong thành, Sở vương còn 8.000 đệ tử trung thành quyết tử chiến. Bốn bề quân địch bao vây đám tàn quân của Sở mất tinh thần chiến đấu.

Trong câu 3: Sơn hà ý khí tận – cả sông núi tận cùng chí khí, huống hồ là ba quân. Đọc lại câu thơ này tôi nhớ đến tích Trương Lương (văn thần của Lưu Bang) trong đêm vắng thổi tiêu rồi hát cho quân Hán hát bài “Bi ca tán Sở” do chính Trương soạn lấy. Vì tiếng sáo của Trương Lương, quân Sở nản lòng bàn nhau bỏ trốn.

Trong câu 4: Lệ tiễn mỹ nhân y – nước mắt tiễn đưa làm ướt áo người đẹp. Tại trận Cai Hạ, vợ chồng Hạng Võ và Ngu Cơ ôm nhau mà khóc trong lần vĩnh biệt. Không để cho chồng lụy về mình, Ngu Cơ rút đoản đao của Hạng Võ mà tự tử để cho Sở vương mở đường máu mà trốn. Đó là lần cuối từ biệt người vợ chung thủy. Hạng Võ chạy đến Ô Giang cùng đường, hổ thẹn với người và đất Giang Đông rồi tự sát. Từ đó Lưu Bang lên ngôi hoàng đế và lập ra nhà Hán.

Chỉ trong bốn câu, đoạn cuối của truyện Hán Sở tranh hùng đã được tóm tắt! Đường thi như tranh sơn thủy của Trung Hoa, đơn giản và nhiều nét phóng bút tiêu biểu.

oOo

Dịch thủy tống biệt – Lạc Tân Vương [DTTB]

Thử địa biệt Yên Đan,
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thủy do hàn.

易水送別 –駱賓王

此地別燕丹,
壯士髮衝冠。
昔時人已沒,
今日水猶寒。

Chốn này từ biệt Yên Đan,
Ra đi tráng sĩ tóc gan dựng đầu,
Người xưa hồn ở nơi đâu?
Ngày nay nước chảy âu sầu lạnh tê.
(Tiễn đưa nơi sông Dịch – LHP phóng tác)


Trong bài thơ này tác giả nhắc lại tích xưa: Thái tử Đan người nước Yên từ biệt Kinh Kha tại bờ sông Dịch (biên giới nước Triệu), để lên đường tìm cách giết Tần Thuỷ Hoàng (221 – 210 TCN). Trước khi lên đường, tráng sĩ Kinh Kha tóc trên đầu dựng đứng và có ngâm hai câu thơ [TKLT]

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.


(Gió hiu hắt thổi, nước sông Dịch lạnh,
Tráng sĩ một lần ra đi không trở về)

Kinh Kha vào được hoàng cung nhà Tần nhưng giết hụt Tần Thuỷ Hoàng và cuối cùng chính Kinh Kha bị quân triều đình giết chết. Một lần tráng sĩ ra đi để thi hành nhiệm vụ và không bao giờ trở về, bên bờ sông Dịch lạnh lùng người đời còn tự hỏi “Người xưa hồn ở nơi đâu, Ngày nay nước chảy âu sầu lạnh tê.

oOo

Chiêu Quân Từ – Bạch Cư Dị [CQT]

Hán sứ khước hồi bằng ký ngữ,
Hoàng Kim hà nhật thục nga my?
Quân vương nhược vấn thiếp nhan sắc,
Mạc đạo bất như cung lý thì.

昭君詞 – 白居易

漢使卻回憑寄語,
黃金何日贖蛾眉。
君王若問妾顏色,
莫道不如宮裡時。

Nhắn lời Hán sứ về kinh:
“Có ngày chuộc lại người xinh bằng vàng?
Nếu vua hỏi thiếp dung nhan,
Xin đừng nói kém, phai tàn hơn xưa.”
(Bài ca Chiêu Quân – LHP phóng tác)


Dưới đời vua Hán Nguyên Đế (49 – 33 TCN), sách chép rằng trong hậu cung có khoảng 3.000 cung phi, nên vua phải cho họa sĩ Mao Diên Thọ vẽ hình các cung phi để nhà vua chọn. Vương Chiêu Quân vì không hối lộ cho Mao Diên Thọ nên bức chân dung của nàng quá xấu xí không được vua Hán để ý tới. Sau vua Hán biết được sắc đẹp của nàng, phong Chiêu Quân làm Tây Phi và khiển trách, nghiêm phạt Mao Diên Thọ.

Thời đó, Hung nô thường xuyên quấy nhiễu nước Trung Hoa, Mao Diên Thọ đem lòng thù hận Chiêu Quân nên lấy chân dung của nàng nạp cho vua Hung Nô. Qua bức chân dung, vua Hung Nô mê say sắc đẹp của nàng, lại cất quân sang đánh và buộc Hán Nguyên Đế phải cống nạp Chiêu Quân thì mới rút binh. Hán triều bất lực trước thế giặc phải mang Chiêu Quân cống Hồ. Trên đường sang đất Hồ tới cửa ải cuối cùng Nhạn Môn Quan trên đất Hán, Chiêu Quân cảm tác và gẩy khúc Hồ cầm mà trong văn chương còn nhắc nhở đến.

Bài thơ Chiêu Quân Từ của Bạch Cư Dị có ý đầy trách móc và mỉa mai vua Hán :
  • Câu một – Chiêu Quân có lời nhắn nhủ với sứ quán Hán triều – Sao vua đem gả mỹ nhân cho vua Hung mà không biết được sắc đẹp của nàng?
  • Câu hai – Nếu có ngày Hán vương muốn đem vàng bạc chuộc lại người đẹp cũng không được.
  • Câu ba và bốn – Ý chọc tức nhà vua, qua lời dặn với Hán sứ, là nếu vua có hỏi nhan sắc của mình, thì đừng nói vẻ đẹp kém hơn khi xưa lúc còn ở trong cung nhà Hán.
Sự tích Chiêu Quân cống Hồ được đề cập trong văn chương Việt Nam – qua hai câu (1041–1042) trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Ðình Chiểu

Chiêu Quân xưa cũng cống Hồ,
Bởi người Diên Thọ họa đồ gây nên!

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, lúc Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe, còn có nhắc lại tích Chiêu Quân đánh đàn khi qua Nhạn Môn Quan trong hai câu (479–480):

Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.

Sắc đẹp của Chiêu quân nổi tiếng và được cho là một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa. Nhan sắc của bốn người đẹp xưa được ca ngợi trong văn chương là trầm ngư, lạc nhạn, bế nguyệt tu hoa.
  • Tây Thi (thời Xuân Thu) trầm ngư – cá phải lặn sâu dưới nước vì sắc đẹp của nàng
  • Chiêu Quân (nhà Tây Hán) lạc nhạn – chim nhạn phải sa xuống đất
  • Điêu Thuyền (đời Tam quốc) bế nguyệt – sắc đẹp che lấp cả mặt trăng
  • Dương Quý Phi (đời nhà Đường, 719 – 756) tu hoa – khiến hoa phải xấu hổ.
Trầm ngư, lạc nhạn, bế nguyệttu hoa được đề cập khi tả về nhan sắc của người cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc qua bốn câu thơ (17-20):

Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn (1),
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa (2),
Hương trời đắm nguyệt say hoa (3),
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.
Note:
(1). trầm ngư
(2). lạc nhạn
(3). bế nguyệt và tu hoa

oOo

Bài thơ Bát trận đồ nói lên tài năng, những thành tựu chính của Khổng Minh Gia Cát Lượng (181 – 236).

Bát trận đồ – Đỗ Phủ [BTĐ]

Công cái tam phân quốc,
Danh thành bát trận đồ.
Giang lưu thạch bất chuyển,
Di hận thất thôn Ngô.

八陣圖 –杜甫,

功蓋三分國,
名成八陣圖。
江流石不轉,
遺恨失吞吳

Thời Tam quốc công lao một trụ,
Trận Bát quái danh tiếng muôn đời.
Nước trôi mãi, đá chẳng dời,
Tiếc cho Tiên Chúa sai lời, đánh Ngô.
(Bát quái trận đồ – LHP phóng tác)


Câu một: Dưới thời Tam quốc, bên nhà Thục Hán, trong hai đời vua là Lưu Bị và Lưu Thiện, mọi việc hành chánh và quân sự đều do Khổng Minh đảm trách.

Câu hai: Khổng Minh cho dựng thành – ở huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên – để lập Bát quái trận đồ nhằm bao vây quân Ngô. Tướng Ngô là Lục Tốn bị quân Thục vây hãm không biết đường tiến thoái, sau nhờ Hoàng Thừa Nghiện (nhạc phụ của Khổng Minh) chỉ đường nên ra thoát được.

Câu ba: nước vẫn chảy, đá vẫn còn đấy và lịch sử – mà người xưa cho là như ý trời đã định – đã được viết cho tháng năm tiếp nối.

Câu bốn: Năm 222, Lưu Bị muốn trả thù cho Quan Vũ, nên đem quân đi đánh Kinh Châu mặc dù Khổng Minh can gián, kết quả thảm bại khiến cho nhà Thục suy dần (Di hận thất thôn Ngô – còn hận đánh Ngô không thành tựu).

oOo

Xích Bích hoài cổ – Đỗ Mục [XBHC]

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,
Tư tương ma tẩy nhận tiền triều.
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng tuớc xuân thâm tỏa nhị kiều.

赤壁懷古 – 杜牧

折戟沉沙鐵未銷,
自將磨洗認前朝。
東風不與周郎便,
銅雀春深鎖二喬。

Giáo dìm dưới cát chưa mòn,
Rửa ra còn rạng nét son tiền triều.
Gió đông nếu chẳng thuận chiều,
Đêm xuân Đồng Tước hai Kiều bị giam.
(Vịnh trận Xích Bích – LHP phóng tác)


Trong Tam quốc chí diễn nghĩa tới hồi nhà Thục Hán có chủ trương hòa Ngô phạt Ngụy, Lưu Bang gửi Khổng Minh qua Giang Đông để giúp Đông Ngô. Tài năng của Gia Cát Lượng nổi bật trong trận Xích Bích (1) và có điển tích “Khổng Minh cầu gió để dùng hoả công” trong trận này.

Trước tiên, Khổng Minh phải dùng kế để dụ Đông Ngô đánh Ngụy trong trận Xích Bích: Khi Tào Tháo cho xây xong đài Ðồng Tước (2), con là Tào Thực tự là Tử Kiến làm một bài phú gọi là Ðồng Tước đài phú. Trong bài đó có hai câu nguyên văn:

Liên nhị kiều vu đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.


Bắc hai cầu Ðông, Tây nối lại,
Như cầu vồng sáng chói không gian...
(Tử Vi Lang dịch)

Khổng Minh vì muốn chọc tức Chu Du để khích Ngô đánh Ngụy trong trận Xích Bích nên đã sửa lại là

Lãm nhị Kiều ư đông nam hề,
Lạc triêu tịch chi dữ cộng.


Tìm hai Kiều phương Nam về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân...
(Tử Vi Lang dịch)

Khổng Minh đã đặt chuyện rằng khi Tào Tháo cho xây đài Đồng Tước để chiếm được Đông Ngô sẽ bắt Đại Kiều (vợ của Tôn Sách, anh của Tôn Quyền) Tiểu Kiều (vợ của Chu Du) về làm hầu để vui lúc tuổi già (hồi 44).

Nhà Ngô nhất định đánh Ngụy nhưng Chu Du mãi lo nghĩ mà đâm ra bệnh nặng (hồi 49 – Dụng hỏa công). Đến khi Khổng Minh bảo Lỗ Túc có cách chữa bệnh cho Chu Du. Lỗ Túc dẫn Khổng Minh vào gặp Chu Du. Khổng Minh đưa Chu Du 4 câu thơ

Muốn đánh Tào quân,
Phải dùng hỏa công,
Mọi sự chẳng thiếu,
Chỉ thiếu vì gió Ðông.


Nhờ Khổng Minh cầu gió nên quân Ngô dụng hỏa công diệt được 80 vạn quân Tào. Chu Du vừa tức giận vừa khâm phục tài Khổng Minh – nhờ gió đông mà quân Ngô thắng trận và chính mình khỏi mất vợ. Gia Cát Lượng đã 3 lần chọc tức Chu Du. Trước khi chết Chu Công Cẩn có than rằng: “Trời sinh Du sao còn sinh Lượng?” (“Sinh Du hà sanh Lượng?”, hồi 57).

Trên đây là điển tích tại sao Đỗ Mục làm hai câu “Đông phong bất dữ Chu lang tiện, Đồng tuớc xuân thâm tỏa nhị Kiều” để đặt vấn đề một cái “what-if scenario” để người đời suy ngẫm – Nếu gió đông không thổi theo ý Chu Du, thì trong đêm xuân Đại Kiều và Tiểu Kiều đã bị giam tại đài Đồng Tước, thì cuộc diện của lịch sử ra sao?. Cái thâm thúy là chỉ 2 câu thơ Đường ngắn gọn, muốn hiểu thấu phải đọc và hiểu cả mấy hồi trong đại tác phẩm Tam quốc chí diễn nghĩa.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có hai câu (155-156) nhắc lại điển tích này :

“Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều”

Chẳng qua thơ Tứ tuyệt là đỉnh cao của sự cô đọng, xúc tích của văn chương bác học của người quân tử.


(1). Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang (長 江 hay Dương Tử Giang) thuộc tỉnh Hồ Bắc
(2). Đài Đồng Tước nay còn ở huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam.

oOo

Cố hành cung – Nguyên Chẩn [CHC]

Liêu lạc cố hành cung,
Cung hoa tịch mịch hồng.
Bạch đầu cung nữ tại,
Nhàn tọa thuyết Huyền Tông.

故行宮 – 元稹

寥落故行宮,
宮花寂寞紅。
白頭宮女在,
閒坐說玄宗。

Bên hành cung cũ tiêu điều,
Hoa cung kém đỏ sớm chiều sầu tây.
Bạc đầu cung nữ còn đây,
Ngồi rầu nhắc chuyện những ngày Huyền Tông.
(Hành cung cũ – LHP phóng tác)


Đời nhà Đường (618-907) là thời hoàng kim của nước Trung hoa với ảnh hưởng văn hóa, chính trị lan tràn đến các nước láng giềng. Năm 755 có loạn An Sử (An Lộc Sơn và Sử Tư Minh làm phản) đời Đường Huyền Tông (Ðường Minh Hoàng 712-761), nhà vua phải bỏ kinh thành chạy giặc. Sau loạn này nhà Đường và nước Trung Hoa nói chung suy yếu dần về mọi mặt, mãi mấy trăm năm sau mới phục hồi.

Bài thơ nói về cảnh hoàng cung cũ tiêu điều vì qua bao loạn lạc. Từ xưa có câu “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.”, nghĩa là từ xưa người đẹp như danh tướng, không gặp người đời lúc hết thời trong lúc tuổi già tóc bạc. Vậy mà trong cảnh hành cung xơ xác, Nguyên Chẩn còn tả lại cảnh cung nữ bạc đầu ngồi kể nhớ lại chuyện thời vàng son trong hoàng cung của Đường Huyền Tông. Đây là cảnh điêu tàn của người trong cảnh điêu tàn của hoàng cung cũ, làm cảnh của cố hành cung càng thêm liêu lạc.