Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - a. Phần mở đầu

I. Lời mở đầu

Người Việt ta phần đông, từ lâu rất chuộng tiếng ngoại quốc. Thời buổi này ai nói được tiếng Anh là người hiểu biết trong thời đổi mới và kinh tế hội nhập. Thời Pháp thuộc, người nói được tiếng Tây là kẻ sang và có quyền thế. Còn hồi xưa ai nói Nho là người khoa bảng và là người đài các. Nhờ nói Nho mà Nguyễn Công Trứ đã ve vãn được người thiếu nữ xinh đẹp, được nàng nể nang và theo làm hầu. Truyện kể rằng khi người thiếu nữ ấy hỏi han tuổi tác, dáng chừng cho ông là già, ông đáp: “Tam thập niên tiền, nhị thập tam”. Nếu ông trả lời “ba mươi năm trước, tuổi hai mươi ba”, mặc dù dí dỏm nhưng chắc gì đã được việc? Đó là hiệu quả của văn chương và do miệng kẻ sang người có chữ nghĩa trả lời!

Là kẻ hậu sinh tập tành tự tìm hiểu chữ Hán, Đường thi đối với tôi cũng có sự lôi cuốn như là vị đại quan nói Nho cho người thiếu nữ ngây thơ ngày trước. Thơ Đường sâu sắc là vì có sự kết hợp giữa thi ca và nhã nhạc, đằng sau mỗi câu thơ là một điển tích, một nghĩa lý sâu xa mà người đọc phải theo một qui ước nào mới hiểu rõ được. Đọc Đường Thi vần điệu êm ả mà như xem truyện xưa thấy lại cảnh cũ để nhớ đến cổ tích mà nghiền ngẫm.

Đường thi đã sâu sắc, thơ tứ tuyệt hay tuyệt cú (cũng còn được gọi là tiệt cú, đoạn cútuyệt thi) lại còn sâu sắc hơn, vì tuyệtcắt ngắn hay là tuyệt diệu. Thơ Tứ tuyệt có thể là bốn câu riêng hay có thể ngắt bốn câu trong bài bát cú (ngũ ngôn hay thất ngôn) mà thành - nghĩa là cô đọng hóa những bài thơ Đường luật đã được cô đọng. Cái hay của tứ tuyệt là ngắn gọn mà hàm súc, “dĩ thiểu kiến đa” (lấy ít mà hiểu nhiều) vừa gợi ý vừa tóm tắt tiêu biểu. Đọc thơ tứ tuyệt đôi khi ta phải hiểu “ý tại ngôn ngoại” (ý trong lời ngoài, như người phương tây nói “reading between the lines”). Đây là đặc tính của những bài thơ tứ tuyệt, người đọc thơ phải “giải mã” mới thưởng thức được hết ý tưởng của tác giả muốn diễn đạt. Lời thơ tứ tuyệt như phong cách của người quân tử - lấy lời nói gần, chọn lọc xúc tích mà tình ý sâu xa để người đọc suy đi nghĩ lại.

Tùy theo cách ngắt câu từ bài bát cú, bài tứ tuyệt có thể có hai vần hoặc ba vần. Thơ tứ tuyệt còn được Nguyễn Du cho là “bốn câu ba vần”. Trong Truyện Kiều, cảm xúc trước cảnh hồng nhan bạc mệnh Thúy Kiều đề bài thơ tuyệt cú để tặng Đạm Tiên (câu 99 - 100).

Rút trâm sẵn giắt mái đầu,
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần

Người ta cho rằng thơ dịch phải hội đủ ba yếu tố “Tín - Đạt - Nhã”. Tín là chính xác và trung thành với bài thơ nguyên gốc từng từ ngữ đến điển tích. Đạt là diễn đạt được toàn ý tưởng của bài thơ và Nhã là trang nhã, bài thơ dịch phải có âm điệu dồi dào. Theo tôi có ba tác giả dịch thơ Đường nổi tiếng, mỗi người một vẻ, mỗi tác giả trội bật một yếu tố : 1) Thơ Đường dịch bởi Trần Trọng Kim đạt được chữ Tín vì ông là một học giả thâm nho. 2) Thơ dịch của Ngô Tất Tố hội được yếu tố Đạt, có thể giải thích vì ông là một nhà văn danh tiếng. 3) Còn thơ dịch của Tản Đà đã đạt được chữ Nhã, không có gì ngạc nhiên lắm vì ông là một trong những nhà thơ lớn nhứt trong thi đàn Việt nam.

Người dịch thơ phải đối diện một thử thách là giữ thế cân bằng giữa ba yếu tố - Tín Đạt Nhã. Dịch văn đã khó huống hồ là dịch thơ, là vì khi dịch thơ người ta phải dịch thơ ra thơ, nghĩa là phải dịch theo nghĩa và vần (và đôi khi phải dịch văn hóa này sang văn hóa khác). Dịch thơ là làm thơ hay phóng tác thơ, dựa theo ý chính của bài nguyên thủy và cảm hứng riêng mà sáng tác. Nhưng thơ Tứ tuyệt cô đọng, mỗi bài chỉ có 20 chữ (ngũ ngôn tứ tuyệt) hay 28 chữ (thất ngôn tứ tuyệt), ý tưởng hàm súc và để lại cho người đọc còn nhiều tưởng tượng vì “ngôn tuyệt ý bất tuyệt” (lời hết mà ý không hết). Người đọc thơ tùy theo cách suy nghĩ, cảm hứng sẽ có những nhận thức khác nhau. Dịch thơ tứ tuyệt cũng thế, thơ dịch đa dạng tùy theo tác giả cảm nhận và diễn đạt vì bài thơ nguyên gốc chỉ có bốn câu, lời đã hết cho nên đôi khi nhờ bài thơ dịch để tả ngụ ý chưa được nói ra.

Đọc lại và cảm nhận mấy giòng thơ tứ tuyệt bất hủ, trong bài này tôi xin phóng tác - tôi tránh dùng từ dịch, vì nó có vẻ máy móc khuôn mẫu mất đi tính cảm hứng sáng tạo của thơ - và bàn lại cảm nghĩ của mình về mấy bài tứ tuyệt danh tiếng cổ kim…


Lý Hữu Phước biên soạn,
Mùa Giáng Sinh, năm Mậu Tý 2008.