Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - g. Nỗi nhớ nhà


6. Nỗi nhớ nhà

Tĩnh Dạ Tứ – Lý Bạch [TDT]

Sàng tiền khán nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Ðê đầu tư cố hương.

靜夜思 – 李白

床前看月光,
疑是地上霜。
舉頭望明月,
低頭思故鄉。

Đầu giường ngắm bóng trăng rơi,
Như sương ướt đất, khóc đời miền xa.
Ngẩng nhìn lên ánh nguyệt ngà,
Cúi đầu tưởng nhớ quê nhà thuở xưa.
(Đêm vắng nhớ nhà – LHP phóng tác)


Hai câu thơ đầu đơn giản như kể chuyện hơn là tả cảnh nhưng người đọc thấy được một hình ảnh tiêu biểu và thấu hiểu được tâm trạng kẻ xa nhà. Người xa nhà phần đông là do lý do kinh tế, đi xa theo việc làm trong tình huống “tha phương cầu thực”, ban đêm có dịp rảnh rỗi đặt lưng xuống giường, thấy ánh trăng lòng mới ngổn ngang nhớ đến quê hương xưa có người thân thiết và nhiều kỷ niệm. Cảnh ban đêm rất tĩnh, nhưng trong tâm rất động. Bài thơ không trực tiếp tả lên điều này, nhưng người đọc ngẫm nghĩ và cảm thấy xót xa nhớ nhà…

oOo

Hồi hương ngẫu thư (kỳ 1) – Hạ Tri Chương [HHNT1]

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai?

回鄉偶書(其一) – 賀知章

少小離家老大迴,
鄉音無改鬢毛衰。
兒童相見不相識,
笑問客從何處來。

Xa nhà trẻ, trở về già,
Giọng quê còn đó, tóc là còn bao?
Trẻ con gặp mặt không chào,
Hỏi cười: “khách lạ phương nào lại đây?”
(Về quê ngẫu hứng kỳ 1 – LHP phóng tác)

Trở về xóm cũ qua bao năm xa cách vì lúc ra đi còn trẻ, giọng nhà quê không thay đổi mà tóc nay đã rụng nhiều. Đám hậu sinh chẳng biết mình là ai nên không chào hỏi thăm vồn vã và có lời hỏi trỗng “vô lễ phép” – Hỏi cười: “khách lạ phương nào lại đây?”.

Bài thơ không nói lên điều buồn trách và thất vọng, nhưng người đọc vẫn thấy mang máng lời trách và hiểu được ý của ông già xưa “khó tánh”. Bài thơ đơn giản như lời đối thoại kể chuyện đời, nhưng có đầy âm điệu và tiết tấu.

oOo

Hồi hương ngẫu thư (kỳ 2) – Hạ Tri Chương [HHNT2]

Ly biệt gia hương tuế, nguyệt đa,
Cận lai nhân sự thiếu tiêu ma.
Duy hữu môn tiền Kính hồ thủy,
Xuân phong bất cải cựu thời ba.

回鄉偶書(其二) – 賀知章

離別家鄉歲月多,
近來人事少消磨。
惟有門前鏡湖水,
春風不改舊時波。

Tháng năm xa cách quê nhà,
Sự đời xóm cũ gần xa hao gầy.
Mặt hồ trước cửa còn đây,
Gió xuân chẳng đổi sóng bay một thời.
(Về quê ngẫu hứng kỳ 2 – LHP phóng tác)

Người xa nhà lâu năm, mới về quê hỏi han đời sống của dân làng mình và cảnh xưa.

oOo

Tạp thi – Vương Duy [TThi]

Quân tự cố hương lai,
Ưng tri cố hương sự.
Lai nhật ỷ song tiền,
Hàn mai trước hoa vị.

雜詩 – 王維

君自故鄉來,
應知故鄉事。
來日綺窗前,
寒梅著花未。

Quê nhà bạn mới tới đây,
Biết chăng quê cũ đổi thay mấy là?
Ngày đi trước cửa tại nhà,
Cây mai mùa rét, còn hoa nở đầy?
(Tạp thi – LHP phóng tác)

Người Trung Hoa xưa có bốn câu để tả bốn cảnh hạnh phúc nhứt trong đời người:

Đại hạn phùng cam vũ,
Tha hương ngộ cố tri,
Động phòng hoa chúc dạ,
Bảng hổ kiến danh đề. (1)

(Hạn lớn gặp mưa rào,
Xa xứ gặp bạn cũ,
Đêm tân hôn động phòng,
Thấy tên mình thi đậu.)

Cho nên gặp người đồng hương quen biết trước ở chốn quê người là điều hạnh phúc thứ hai. Lòng mừng vì gặp bạn nhưng dạ bâng khuâng nhớ về quê hương làng xóm nên có lời hỏi han dồn dập. Người ra đi xa nhà nhớ từng chi tiết  về nhà cũ và xứ sở của mình, cho nên mói hỏi về những chi tiết vớ vẩn và vẩn vơ “Ngày đi trước cửa tại nhà, Cây mai mùa rét, còn hoa nở đầy?”. Tương tự, ca dao Việt Nam cũng còn có câu về tâm trạng của người đi xa nhớ lại mái nhà xưa:

Ra đi nhớ trước nhớ sau,
Nhớ nhà mấy cột, nhớ cau mấy buồng.

oOo

Tòng quân hành – Lệnh Hồ Sở [TQH]

Sóc phong thiên lý kinh,
Hán nguyệt ngũ canh thanh.
Tùng hữu hoàn gia mộng,
Do văn xuất tái thanh.

從軍行 – 令狐楚

朔風千里驚,
漢月五更青。
縱有還家夢,
猶聞出塞聲。

Gió may ngàn dặm dạ kinh,
Trông về đất Hán, năm canh trăng tà.
Có đêm nằm mộng về nhà,
Tiếng quan truyền lịnh tiến ra biên thùy.
(Bài ca tòng quân – LHP phóng tác)


Lệnh Hồ Sở (766-837 – thời Trung Đường) làm bài thơ này tả lại tâm tình của người lính thú đóng quân ở biên giới phía bắc Trung Hoa xa quê hương ngàn dặm. Ban đêm gió heo may thổi mạnh làm người chiến sĩ lạnh lùng sợ hãi. Cả đêm suốt đủ năm canh, dưới bóng trăng sáng nhìn về đất Hán nơi xứ sở của mình lòng càng bồn chồn nhớ nhà. Đã là thân phận làm lính thú, ví dầu có nằm mơ về nhà nhưng nữa đêm có lịnh quan truyền xuất quân đánh giặc thì cũng phải tuân theo. Bài thơ tả về tình cảnh người làm lính vừa buồn lại khổ.

oOo

Phục sầu kỳ 3 – Đỗ Phủ [PS3]

Vạn quốc thượng nhung mã,
Cố viên kim nhược hà,
Tích qui tương thức thiểu,
Tảo dĩ chiến trường đa.

復愁其三 – 杜甫

萬國尚戎馬,
故園今若何,
昔歸相識少,
早已戰場多。

Muôn nơi lên ngựa nhung đao,
Vườn xưa làng xóm ra sao độ rầy?
Xưa về còn biết ai đây,
Mới hay quê cũ dãy đầy chiến tranh.
(Lại buồn, kỳ 3 – LHP phóng tác)



Thời Đỗ Phủ (712-770), nước Trung Hoa có nhiều loạn lạc, chiến tranh, ông có làm tất cả 12 bài Phục sầu.

Câu một: Đời Đường Minh Hoàng, từ năm 755 có loạn An Lộc Sơn, sang năm 756 nhà vua phải bỏ kinh thành Trường An (nay là Tây An) chạy giặc. Khắp nơi trong nước đều có giặc giã, tướng lãnh và quân sĩ với nhung bào binh đao trên ngựa lên đường dẹp giặc.

Câu hai: Đỗ Phủ – quê ở đất Đỗ Lăng, thuộc phủ Tương Dương – lúc tản cư sang Hoa Châu, đất Thục (Tứ Xuyên), bâng khuâng không biết quê nhà ra sao.

Câu ba: Khi quân triều đình chiếm lại thành Lạc Dương, Đỗ Phủ trở về quê nhà nhưng không thấy người quen biết lúc trước.

Câu bốn: Lúc đó ông mới biết quê hương bị tàn phá vì chiến tranh nên mới làm bài Phục sầu (Lại buồn).


(1) Có bản chép Kim bảng quải danh thì