Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - j. Tài liệu tham khảo & Chú thích


A. Tài liệu tham khảo


[BKTT]Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
http://vi.wikipedia.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
Các đề tài
  • Tâm Kinh
  • Chiêu Quân
  • Hán Sở tranh hùng
  • Khổng Minh
  • Nhà Đường
  • Tam quốc Chí diễn nghĩa
[ĐT]Ðường Thi – Trần Trọng Kim – Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản 1995
[NTTT]Nghĩ từ trái tim – Đỗ Hồng Ngọc, Nhà xuất bản tổng hợp tpHCM 2004
[TĐ]Thơ Đường – Phạm Du Yên, Nhà xuất bản tổng hợp Đồng Nai 2005
[TKLT]Thích khách liệt truyện – Sử Ký Tư Mã Thiên
[TV]
Thi viện: http://annonymous.online.fr/Thivien/
  • Chữ Hán của các bài tứ tuyệt trích dẫn


B. Chú thích

[ATKMĐ]Ấm tửu khán mẫu đơn – Lưu Vũ Tích

Kim nhật hoa tiên ẩm,
Cam tâm tuý sổ bôi.
Đãn sầu hoa hữu ngữ,
Bất vị lão nhân khai.

飲酒看牡丹 – 劉禹錫

今日花前飲,
甘心醉數杯。
但愁花有語,
不為老人開。

Uống rượu xem mẫu đơn – Trần Trọng Kim dịch

Hôm nay uống rượu trước hoa,
Uống chơi vài chén để mà gượng vui.
Chỉ e hoa biết nói cười,
Nở ra, đâu chỉ vì người già nua.

Uống rượu ngắm hoa mẫu đơn – Khương Hữu Dụng dịch

Nay nhấp chén bên hoa
Cố say lấy một và
Chỉ e hoa biết nói:
Đâu nở cho người già

[BTĐ]Bát trận đồ – Đỗ Phủ (712 – 770)

Công cái tam phân quốc,
Danh thành bát trận đồ.
Giang lưu thạch bất chuyển,
Di hận thất thôn Ngô.

八陣圖 – 杜甫

功蓋三分國,
名成八陣圖。
江流石不轉,
遺恨失吞
Bát trận đồ – Trần Trọng Kim dịch

Tam phân quốc công lao tột bậc,
Bát trận đồ danh nức muôn đời.
Nước trôi đá vẫn không dời.
Ngậm ngùi nỗi chẳng nghe lời, đánh Ngô.

Bát Trận Đồ – Trần Trọng San dịch

Vơ công trùm lợp thời Tam Quốc
Danh tiếng làm nên Bát trận đồ
Đá vẫn nằm trơ dòng nước chảy
Hận còn để măi lỡ thôn Ngô

[CH]Cai hạ – Trừ Tự Tôn

Bách chiến vị ngôn phi,
Cô quân kinh dạ vi.
Sơn hà ý khí tận,
Lệ tiễn mỹ nhân y.

垓城 – 儲嗣宗

百戰未言非,
孤軍驚夜圍。
山河意氣盡,
淚濕美人衣。

Trận Cai Hạ – Trần Trọng Kim dịch

Trăm trận, chưa nói là không phải,
Đám cô quân đêm hãi vòng vây
Núi sông ý chí hết ngay
Lệ rơi uớt áo của ai đầm đìa.

[CHC]Cố hành cung – Nguyên Chẩn

Liêu lạc cố hành cung,
Cung hoa tịch mịch hồng.
Bạch đầu cung nữ tại,
Nhàn tọa thuyết Huyền tông.

故行宮 – 元稹

寥落故行宮,
宮花寂寞紅。
白頭宮女在,
閒坐說玄宗。

Hành cung cũ – Bản Dịch Trần Trọng Kim

Hành cung cũ, cảnh tiêu điều,
Hoa kia vẫn nở đìu hiu cạnh lầu.
Cung nhân một mụ bạc đầu,
Ngồi rồi, kể chuyện khi hầu Huyền tôn.

[CQT]Chiêu Quân Từ – Bạch Cư Dị (772 – 846)

Hán sứ khước hồi bằng ký ngữ
Hoàng kim hà nhật thục nga my
Quân vương nhược vấn thiếp nhan sắc
Mạc đạo bất như cung lý thì

昭君詞 – 白居易

漢使卻回憑寄語,
黃金何日贖蛾眉。
君王若問妾顏色,
莫道不如宮裡時。

Bài hát bà Chiêu Quân – Trần Trọng Kim dịch

Gửi lời Hán sứ sắp về
Đem vàng chuộc lại nga my có ngày
Dù vua hỏi thiếp mặt mày
Chớ nên nói rõ kém ngày trong cung

[DTTB]Dịch thủy tống biệt – Lạc Tân Vương

Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thủy do hàn.

易水送別 –駱賓王

此地別燕丹,
壯士髮衝冠。
昔時人已沒,
今日水猶寒。

thuỷ do hàn - Nước còn lạnh, nhắc lại câu hát của Kinh Kha:

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

(風蕭蕭兮,易水寒,
壯士一去兮,不復還。)

(Gió hiu hắt thổi, nước sông Dịch lạnh,
Tráng sĩ một lần ra đi không trở về)

Tiễn biệt ở sông Dịch – Trần Trọng Kim dịch

Đất này từ biệt Yên Đan,
Tóc đầu đứng ngược, máu hờn nóng sôi.
Người xưa khuất bóng đi rồi,
Ngày nay còn thấy nước trôi lạnh lùng.

Chia tay bên sông Dịch – Tản Đà dịch

Đất này biệt chú Yên Đan
Tóc anh tráng sĩ tức gan dựng đầu
Người xưa nay đã đi đâu,
Lạnh lùng sông nước cơn sầu chưa tan

[ĐUCĐC]
Ðăng U Châu Ðài Ca – Trần Tử Ngang (Sơ Ðường)

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế hạ.

登幽州臺哥 – 陳子昂

前不見古人,
後不見來賈。
念天地之悠悠,
獨愴然而涕下。

Bản dịch Trần Trọng Kim

Trước chẳng thấy người xưa,
Sau chẳng thấy ai cả.
Ngẫm trời đất thăm thẳm sao !
Riêng xót xa lệ lã chã.

Bài Ca Lên Ðài U Châu – Trần Trọng San dịch

Ngoảnh lại trước: người xưa vắng vẻ
Trông về sau: quạnh quẽ người sau
Ngẫm hay trời đất dài lâu
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan

Bài hát lên đài U Châu – Tương Như dịch
Người trước chẳng thấy ai
Người sau thì chưa thấy
Gẫm trời đất thật vô cùng
Riêng lòng đau mà lệ chảy.

[ĐHK]Đào hoa khê – Trương Húc p411

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên,
Thạch cơ tây bạn vấn ngư thuyền.
Đào hoa tận nhật tùy lưu thuỷ,
Động tại thanh khê hà xứ biên.

桃花溪 –張旭

隱隱飛橋隔野煙,
石磯西畔問漁船。
桃花盡日隨流水,
洞在清溪何處邊。

Khe Đào hoa –Trần Trọng Kim dịch

Cầu bay cách khói mờ mờ,
Hỏi thăm thuyền cá đậu bờ đá kia.
Suốt ngày nước chảy hoa đi,
Chẳng hay trong suối, động kề mé nao ?


[ĐTSKX]
Đề tích sở kiến xứ – Thôi Hộ

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

題都城南莊 – 崔護

去年今日此門中,
人面桃花相映紅。
人面不知何處去?
桃花依舊笑春風。

Đề chỗ đã trong thấy năm trước – Trần Trọng Kim dịch

Hôm nay, năm ngoái, cửa cài
Hoa đào ánh với một người đỏ tươi
Mặt người chẳng biết đâu rồi
Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.

Thơ đề ở ấp phía nam đô thành – Tản Đà dịch

Cửa đây năm ngoái cũng ngày này,
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá,
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây.

[GHVĐ]
Giang hành, vô đề – Tiền Khởi

Thụy ổn diệp chu khinh,
Phong vi, lãng bất kinh.
Nhậm quân lô vĩ ngạn,
Chung dạ động thu thanh.

江行無題 – 錢起

睡穩葉舟輕,
風微浪不驚。
任君蘆葦岸,
終夜動秋聲

Đi trên sông, không đề – Tản Đà dịch

Ngủ yên trong chiếc thuyền con
Gió hiu hiu thổi sóng rờn rợn đưa
Mặc dầu lau sậy trên bờ
Suốt đêm đông rộn tha hồ tiếng thu.


[GT]
Giang tuyết – Liễu Tông Nguyên

Thiên sơn điểu phi tuyệt,
Vạn kinh nhân tung diệt.
Cô chu thôi lạp ông,
Độc điếu hàn giang tuyết.

江雪 – 柳宗元

千山鳥飛絕,
萬徑人蹤滅。
孤舟簑笠翁,
獨釣寒江雪。

Bản dịch của Tản Đà –

Nghìn non mất bóng chim bay,
Muôn con đường tắt dấu giày tuyệt không.
Kìa ai câu tuyết bên sông,
Áo tơi, nón lá, một ông thuyền chài.

Tuyết trên sông – Tương Như dịch

Ngìn non, bóng chim tắt
Muôn nẻo, dấu người không
Thuyền đơn, ông tơi nón
Một mình câu tuyết sông.

[HHLTMHN]Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lý Bạch

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

黃鶴樓送孟浩然之廣陵 – 李白

故人西辭黃鶴樓,
煙花三月下陽州。
孤帆遠影碧空盡,
惟見長江天際流。

Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng – Trần Trọng San dịch

Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu
Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc
Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau

[HHNT1]Hồi hương ngẫu thư (kỳ 1) – Hạ Tri Chương

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao thôi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai.

回鄉偶書其一 – 賀知章

少小離家老大迴,
鄉音無改鬢毛衰。
兒童相見不相識,
笑問客從何處來。

Về nhà ngẫu viết kỳ 1 – Trần Trọng Kim dịch

Bé đi, già mới về nhà,
Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.
Trẻ con trong thấy hững hờ,
Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.
[HHNT2]Hồi hương ngẫu thư (kỳ 2) – Hạ Tri Chương

Ly biệt gia hương tuế, nguyệt đa,
Cận lai nhân sự thiếu tiêu ma.
Duy hữu môn tiền Kính hồ thủy,
Xuân phong bất cải cựu thời ba.

回鄉偶書其二 – 賀知章

離別家鄉歲月多,
近來人事少消磨。
惟有門前鏡湖水,
春風不改舊時波。

Về nhà ngẫu viết kỳ 2 – Trần Trọng Kim dịch

Quê nhà xa cách đã bao thu,
Nhân sự gần đây đã xác xơ.
Riêng có Kính hồ bày trước cửa,
Gió Xuân không đổi sóng thời xưa.

Ngẫu Nhiên Khi Về Quê (Bài Hai) – Hải Đà dịch
1 –
Năm tháng xa nhà chắc đã lâu
Bạn bè mất nửa, nửa về đâu
Hồ Gương trước cửa lung linh nước
Gió chẳng làm thay gợn sóng sầu
2 –
Quê nhà xa cách tháng năm
Bạn bè thưa thớt biệt tăm phương trời
Mặt Hồ Gương trước ngõ soi
Gió xuân chắc chẳng đổi đời sóng xưa

[HK]Hữu không – Đạo Hạnh Thiền Sư

Tác hữu trần sa hữu,
Vi không nhất thiết không.
Hữu không như thủy nguyệt,
Vật trước hữu không không.

有空 – 道行禪師

作有塵沙有,
為空一切空。
有空如水月,
勿著有空空。

Có không – Lê Mạnh Thát dịch

Tạo có mảy may có,
Làm không, tất cả không.
Có không như trăng nước,
Chớ vướng, có không không.
(trích Thiền uyển tập anh)

[HTBCN]Hoài thượng biệt cố nhân – Trịnh Cốc (Vãn Ðường)

Dương tử giang đầu dương liễu xuân,
Dương hoa sầu sát độ giang nhân.
Sổ thanh phong địch li đình vãn,
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần.

淮上別故人 – 鄭谷

揚子江頭楊柳春,
楊花愁殺渡江人;
數聲羌笛離亭晚,
君向瀟湘我向秦。

Từ biệt bạn ở trên sông Hoài –Trần Trọng Kim dịch

Liễu mùa xuân, bến sông Giang,
Qua sông ai thấy hoa duơng, ngậm ngùi.
Gió đưa điệu sáo muộn rồi,
Anh sang bến Sở, ta lui cõi Tần.

Trên sông Hoài từ biệt bạn - Ngô Tất Tố dịch

Sông Dương dương liễu đua tươi,
Hoa dương buồn chết dạ người sang sông,
Đình hôm tiếng sáo não nùng
Anh đi bến Sở, tôi trông đường Tần.

[KLY]Kim lũ y – Đỗ Thu Nương

Khuyến quân mạc tích kim lũ y,
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì.
Hoa khai kham chiết, trực tu chiết,
Mạc đãi vô hoa không chiết chi.

金縷衣 – 杜秋娘

勸君莫惜金縷衣,
勸君惜取少年時。
花開堪折直須折,
莫待無花空折枝。

Áo kim tuyến* – Tương Như dịch

Chiếc áo thêu vàng, anh chớ tiếc
Khuyên anh hãy tiếc thuở xuân xanh
Hoa vừa lúc bẻ thì ta bẻ
Chớ để hoa rơi chỉ bẻ cành

(*) Tên một điệu nhạc cổ



[KO]Khuê oán – Vương Xương Linh (698 – 756)

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu,
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phụ tế mịch phong hầu

閨怨 – 王昌齡

閨中少婦不知愁,
春日凝妝上翠樓。
忽見陌頭楊柳色,
悔教夫婿覓封侯
 
Lời oán của người khuê các – Trần Trọng Kim dịch

Ngẩn ngơ thiếu phụ quên sầu,
Ngày xuân trang điểm, lên đầu dạo chơi.
Chợt nhìn bờ liễu xanh tươi,
Hối cho phu tế kiếm nơi phong hầu

Nỗi oán trong phòng khuê – Bản dịch của Ngô Tất Tố
Cô gái phòng the chửa biết sầu
Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Hối để chồng đi kiếm tước hầu.

Bản dịch của Tản Đà
Trẻ trung nàng biết chi sầu,
Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương.
Nhác trông vẻ liễu bên đường,
Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi.

[KV]Kệ vân, Cư trần lạc đạo phú – Trần Nhân Tông

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

偈云, 居塵樂道賦 – 陳仁宗
居塵樂道且隨緣
饑則餐兮困則眠
家中有寶休尋覓
對景無心莫問禪

Vui đạo – Đào Anh Dũng dịch

Sống đời vui đạo tùy duyên
Đói ăn, mệt ngủ là tiên dưới trần
Tìm đâu của báu ngoài sân
Dửng dưng thế sự có cần thiền không?

Người dịch vô danh

Ở đời vui đạo hảy tùy duyên,
Đói đến thì ăn mệt ngũ liền,
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.


[LCT]Lương Châu Từ – Vương Hàn (687 – 726)

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm, tì bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

涼州詞其一 – 王翰

葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

Bài hát Lương châu – Trần Trọng Kim dịch

Rượu nho kèm với chén lưu li,
Uống thì trên ngựa tiếng tì dục sôi.
Say nằm bãi cát chớ cuời,
Xưa nay chinh chiến mấy ai đã về.


[MTTMN]Mạch thượng tặng mỹ nhân –
Lý Bạch (701 – 762)

Tuấn mã lưu hành đạp lạc hoa,
Thùy tiên trực phất ngũ vân xa.
Mỹ nhân nhất tiếu khiên châu bạc,
Dạo chỉ hồng lâu thị thiếp gia.

陌上贈美人 – 李白

駿馬驕行踏落花,
垂鞭直拂五雲車。
美人一笑褰珠箔,
遙指紅樓是妾家。

Tặng mỹ nhân đi giữa đường – Trần Trọng Kim dịch

Nghênh ngang ngồi ngự du xuân,
Ngọn roi phe phẩy lướt gần xe hoa.
Mỹ nhân vén sáo cười xòa,
Hồng lâu kia đó là nhà thiếp đây.

Tặng người đẹp trên đường – Trần Trọng San dịch
Nghênh ngang ngựa giẫm hoa rơi;
Buông roi, chạm phải xe hoa năm màu.
Mỹ nhân cười hé rèm châu,
Chỉ xa: nhà thiếp là lầu hồng kia.


[NHBĐ]Nam hành biệt đệ – Vi Thừa Khánh

Đạm đạm trường giang thủy,
Du du viễn khách tình.
Lạc hoa tương dữ hận
Đáo địa nhất vô thanh

南行別弟 – 韋承慶

澹澹長江水,
悠悠遠客情。
落花相與恨,
到地一無聲。

Đi Lĩnh Nam từ biệt em trai – Trần Trọng Kim dịch

Êm đềm mặt nước Trường Giang,
Khách xa luống những ngổn ngang mối tình.
Hoa rơi dường cũng bất bình,
Tả tơi xuống đất lặng thinh bùi ngùi.

Bản dịch của Tương Như

Sông dài nước chảy lênh đênh
Dặm nghìn đất khách mối tình mênh mông
Hoa kia chia mối hận lòng
Lúc rơi tới đất tuyệt không tiếng gì

[NHĐC1]Nguyệt hạ độc chước kỳ I – Lý Bạch

Hoa gian nhất hồ tửu,
Độc chước vô tương thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân.

Nguyệt ký bất giải ẩm
Ảnh đồ tùy ngã thân.
Tạm bạn nguyệt tương ảnh,
Hành lạc tu cập xuân.

Ngã ca nguyệt bồi hồi;
Ngã vũ ảnh linh loạn.
Tỉnh thì đồng giao hoan,
Tuý hậu các phân tán.
Vĩnh kết vô tình du,
Tương kỳ diểu Vân Hán.

月下獨酌其一 – 李白

花間 一 壺酒
獨酌無相親
舉杯邀明月
對影成三人
月既不解飲
影徒隨我身
暫伴月將影
行樂須及春
我歌月徘徊
我舞影零亂
醒時同交歡
醉後各分散
永結無情遊
相期邈雲漢

Dưới trăng uống rượu một mình – Trần Trọng Kim dịch

Trong hoa rượu ngọt một bầu,
Một mình chuốc chén có đâu bạn bè.
Mời trăng cất chén lè nhè,
Thân ta, bóng ấy, trăng kia, ba người.

Trăng thì tiếp rượu không nguôi,
Bóng ta theo mãi không rời thân ta.
Bạn cùng trăng bóng vẩn vơ,
Vui chơi khuây khỏa để chờ ngày xuân.

Ta ca trăng cũng băn khoăn,
Khi ta nhảy múa, bóng lăn lộn hoài.
Cùng nhau khi tỉnh vui cười,
Say rồi nghiêng ngửa, mọi nơi rạc rời.
Vô tình giao kết chơi bời,
Hẹn nhau ở chỗ xa khơi cõi trời.


[NN]Ngư nhàn – Không Lộ Thiền Sư

Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền

漁閒 – 空露禪師

萬里清江萬里天,
一村桑柘一村煙。
漁翁睡羞無人喚,
過午醒來雪滿船。

Cái nhàn của lão chài – Võ Đình

Vạn dặm sông xanh, vạn dặm trời,
Ngàn dâu thôn nhỏ, khói lên khơi.
Lão chài say ngủ, không ai gọi,
Tỉnh giấc về trưa, tuyết phủ người.


[NTTNSN]Ngô trung tống Nghiêm Sĩ Nguyên – Lưu Trường Khanh [NTTNSN]

Xuân phong ỷ trạo Hạp Lư thành *,
Thủy quốc xuân hàn âm phục tình.
Tế vũ thấp y khan bất kiến,
Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh.
Nhật tà giang thượng cô phàm ảnh,
Thảo lục hồ nam vạn lý tình.
Đông đạo nhược phùng tương thức vấn,
Thanh bào kim nhật ngộ nho sinh **.

* : thành Hạp Lư là kinh đô của vua Hạp Lư nước Ngô thời Xuân Thu.

** : tác giả khiêm tốn cho mình là người áo xanh gặp nho sinh Nghiêm Sĩ Nguyên.

吳中送嚴士元 – 劉長卿

春風倚棹闔閭城,
水國春寒陰復晴。
細雨濕衣看不見,
閑花落地聽無聲。
日斜江上孤帆影,
草綠湖南萬里情。
東道若逢相識問,
青袍今日誤儒生。
 
Tiễn Nghiêm Sĩ Nguyên tại đất Ngô – Lý Hữu Phước phóng tác)


Gió xuân theo đến Ngô thành,
Tiết xuân trời lạnh gợi tình non sông.
Mưa sương thấm áo mờ trông,
Hoa rơi lướt đất, nghe không tiếng thầm.
Đầu nguồn buồm rẽ chiều dần,
Hồ nam cỏ biếc muôn ngần tình xa.
Lối đông ai thấy hỏi ta:
“Áo xanh nay gặp một nhà nho sinh.”

Ở đất Ngô tiễn Nghiêm Sĩ Nguyên - Điệp Luyến Hoa

Nương chèo ghé đất Hạp Lư,
Trời xuân hiu hắt khi mờ khi trong.
Mưa phùn chẳng tỏ đường trông,
Hoa rơi lặng lẽ nghe không tiếng gì.
Buồm đơn nhuộm ánh chiều đi,
Cỏ in tình đượm xanh rì bờ nam.
Đường đông ai có hỏi thăm,
Áo xanh đã gặp một lần nho sinh

Tiễn Nghiêm Sĩ Nguyên - Cao Nguyên Minh

Tựa mái chèo theo gió ghé ngang
Tiết Xuân, trời lạnh lẽo phong quang
Mưa phùn ướt áo nhìn không rõ
Hoa rụng vô tình không tiếng vang
Ảnh chiếu tà dương buồm lẻ bóng
Cỏ in tình vạn dặm hồ Nam
Ngõ đông, nếu có người quen hỏi
Nho sĩ áo xanh lại ghé thăm

[OT]Khuê Oán – Lý Bạch (701 – 762)

Mỹ nhân quyển châu liêm,
Thâm tọa tần nga mi.
Đãn kiến lệ ngân thấp,
Bất tri tâm hận thùy.

怨情 – 李白

美人捲珠簾,
深坐蹙蛾眉。
但見淚痕濕,
不知心恨誰。

Bản dịch: Trần Trọng Kim

Rèm châu cuốn, một mỹ nhân,
Bùi ngùi ngồi lặng đương nhăn mày ngài.
Chưa khô giọt lệ vừa rơi,
Chẳng hay tủi hận vì ai bận lòng.

Bản dịch: Tản Đà

Người xinh cuốn bức rèm châu,
Ngồi im thăm thẳm nhăn chau đôi mày.
Chỉ hay ngọt lệ vơi đầy,
Đố ai biết được lòng này giận ai.

Bản dịch: Trần Trọng San

Người đẹp cuốn rèm châu,
Ngồi yên, đôi mày trau.
Mắt kia rung ướt lệ,
Lòng biết hận về đâu.


[PKDB]Phong Kiều Dạ Bạc – Trương Kế

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn-san tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

楓橋夜泊 – 張繼

月落烏啼霜滿天,
江楓漁父對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。

Đêm khuya thuyền đậu ở bến Phong Kiều – Trần Trọng Kim dịch

Quạ kêu, trăng lặn sương rơi
Lửa chài cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn sơn.

Đêm thuyền đậu bến Phong Kiều – Tản Đà dịch
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Phong Kiều Dạ Bạc – Trần Trọng San dịch

Quạ kêu, trăng lẩn sương trời
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài, bến phong
Ðêm Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều

[PS3]Phục sầu kỳ 3 – Đỗ Phủ

Vạn quốc thượng nhung mã,
Cố viên kim nhược hà,
Tích qui tương thức thiểu,
Tảo dĩ chiến trường đa.

復愁其三 – 杜甫

萬國尚戎馬,
故園今若何,
昔歸相識少,
早已戰場多。

Lại buồn kỳ 3 – Trần Trọng Kim dịch

Binh nhung muôn nước nôn nao,
Quê hương biết đã ra sao đó rồi,
Xưa về quen biết mấy ai,
Hay đâu sớm đã hóa nơi chiến trường.


[QTG]
Quá tửu gia – Vương Tích

Thử nhật trường hôn ẩm,
Phi quan dưỡng tính linh.
Nhãn khan nhân tận túy,
Hà nhẫn độc vi tỉnh.

過酒家 – 王績

此日長昏飲,
非關養性靈,
眼看人盡醉,
何忍獨為醒。

Qua hàng rượu – Trần Trọng Kim dịch

Hôm nay uống rượu say lì,
Đành là không có ích gì dưỡng sinh.
Thấy người say cả xót tình,
Nỡ nào để có một mình tỉnh riêng.

Bản dịch Cao Bá Vũ

Rượu ngon say mệt say mê,
Say sưa nào có ích gì cho ai.
Người đời ai cũng vui say,
Một mình ta tỉnh với ai bây giờ.

[TAGBN]Tầm ẩn giả bất ngộ – Giả Đảo

Tùng hạ vấn đồng tử,
Ngôn sư thái dược khứ.
Chỉ tại thử sơn trung,
Vân thâm bất tri xứ.

尋隱者不遇 – 賈島

松下問童子,
言師採藥去。
只在此山中,
雲深不知處。

Bản dịch Tản Đà

Gốc thông hỏi chú học trò
Rằng: “Thầy hái thuốc lò mò đi xa.
Chỉ trong dãy núi đây mà,
Mây che mù mịt biết là nơi nao ?”

Bản dịch Trần Trọng San

Dưới thông hỏi chú tiểu đồng ,
Rằng : “Thầy hái thuốc , nên không có nhà .
Núi này quanh quất không xa ,
Nhưng mây nhiều , biết đâu là chốn đi”.


[TCĐP]Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3 – Ðỗ Phủ (Thịnh Ðường)

Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên,
Song hàm tây lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Ðông Ngô vạn lý thuyền.

絕句四首其三 – 杜甫

兩個黃鸝鳴翠柳,
一行白鷺上青天。
窗含西嶺千秋雪,
門泊東吳萬里船。

Tuyệt Cú – Bản Dịch Trần Trọng Kim

Cành thúy liễu hoàng oanh hót gió,
Một đàn cò bay trổ lênh không.
Mé tây núi tuyết dòm song,
Thuyền Ngô muôn dặm, cửa đông đậu đầy.

Tuyệt cú bốn bài kỳ 3 – Tản Đà dịch
Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng cò trắng vút trời xanh.
Nghìn năm tuyết núi song in sắc,
Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.


[TCGĐ]Tuyệt cú – Giả Ðảo (Trung Ðường)

Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lưu
Tri âm như bất thưởng
Qui ngọa cố sơn thu

絕句 – 賈島

二句三年得,
一吟雙淚流。
知音如不賞,
歸臥故山秋。

Tuyệt Cú – Bản Dịch Trần Trọng San

Hai câu làm mất ba năm,
Một ngâm, lã chã hai hàng lệ rơi.
Tri âm nếu chẳng đoái hoài,
Trở về núi cũ, nằm dài với thu.

[TDT]Tĩnh Dạ Tứ – Lý Bạch (701 – 762)

Sàng tiền khán nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Ðê đầu tư cố hương.

靜夜思 – 李白

床前看月光,
疑是地上霜。
舉頭望明月,
低頭思故鄉。

Sự tưởng nghĩ khi đêm im lặng – TrầnTrọng Kim dịch

Đầu giường chợt thấy bóng trăng,
Mập mờ trên đất, ngỡ rằng sương sa.
Ngửng đầu trong vẻ gương nga,
Cúi đầu luống những nhớ nhà băn khoăn

Ý Nghĩ Trong Ðêm Vắng – Trần Trọng San dịch
Trước giường ngắm ánh trăng sa,
Trắng phơi mặt đất, ngỡ là ánh sương
Ngẩng đầu trông ngắm vầng trăng;
Cúi đầu lại nhớ xóm làng ngày xưa.

Cảm nghĩ đêm yên tĩnh –Tương Như dịch
Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.

[TĐT]Thị đệ tử – Vạn Hạnh thiền sư

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn vật xuân vinh thu hựu khô
Nhiệm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

示弟子 – 萬行禪師

身如電影有還無,
萬木春榮秋又枯。
任運盛衰無怖畏,
盛衰如露草頭鋪。

Dặn học trò – Ngô Tất Tố dịch:

Thân như bóng chớp, có rồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
Mặc cho thịnh suy đừng sợ hãi,
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

[TGN]Tân Giá Nương – Vương Kiến

Tam nhật nhập trù hạ,
Tẩy thủ tác canh thang.
Vị am cô thực tính,
Tiên khiển tiểu cô thường.

新 嫁 娘 – 王建

三 日 入 櫥 下,
洗 手 作 羹 湯,
未 諳 姑 食 性,
先 遣 小 古 嘗。

Cô dâu mới cưới – Trần Trọng Kim dịch

Ba ngày xuống bếp làm cơm,
Rửa tay nấu bát canh thơm đã rồi.
Chưa hay tính mẹ thường xơi,
Nhờ em nếm trước, xem mùi được không.

[TK]Tự khiển – Lý Bạch

Đối tửu bất giác minh,
Lạc hoa doanh ngã y.
Túy khởi bộ khê nguyệt,
Điểu hoàn nhân diệc hi

自遣 – 李白

對酒不覺瞑,
落花盈我衣。
醉起步溪月,
鳥還人亦稀。

Tự khiển – Trần Trọng Kim dịch

Rượu say chẳng biết tối ngày,
Tả tơi hoa rụng rắc đầy áo ta,
Theo trăng lần suối bước ra,
Chim thì về tổ, người đà vắng tanh.

Tự khiển – Tản Đà dịch

Rượu vào trời tối chẳng hay,
Hoa đâu rơi rụng đã đầy áo ta.
Say về, khe suối trăng ngà,
Chim bay về tổ, người đà vắng thưa.


[TKinh]Bát Nhã Ba-la-mật-đa – Tâm Kinh
(Prajnàpàramità Hrdaya Sùtra)
bản dịch của Huyền Trang năm 649 trích trong sách [NTTT, p29] và web site của
Wikipedia

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá lợi tử ! Sắc bất dị Không. Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không. Không tức thị Sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

Xá lợi tử ! Thị chư pháp Không tướng: bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Thị cố Không trung: vô sắc vô thọ thưởng hành thức;
Vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý;
Vô sắc thanh hương vị xúc pháp;
Vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới;

Vô vô minh diệc vô vô minh tận nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận;

Vô khổ tập diệt đạo;
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố,


Bồ đề tát đỏa y Bát Nhã Ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.


Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba-la-mật-đa cố đắc A nậu Đa la Tam miệu Tam Bồ đề.


Cổ tri Bát Nhã Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trì nhất thiết khổ, chân thật bất hư !

Cổ thuyết Bát Nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết đế, Yết đế, Bala yết đế, Bala tăng yết đế, Bồ đề, Tát bà ha !

(câu chú trên phiên âm từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, còn phiên âm ra chữ Latin là Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà.)

Bát Nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh

bản dịch tiếng Việt trong trang web http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2m_Kinh


Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.

Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý.
Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt, đạo.
Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.

Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.

Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.

Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.

Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú:

Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà.

(Gate gate – Vượt qua, vượt qua
Pàragate – Vượt qua bờ bên kia
Pàrasaṃgate – Vượt qua hoàn toàn
Bodhi svàhà – Tuệ giác thành tựu.)

[TKhoi]Tảo khởi – Lý Thương Ẩn

Phong lộ đạm thanh thần,
Liêm gian độc khởi nhân,
Oanh đề hoa lựu hiếu,
Tất cánh thị thùy xuân ?

早起 – 李商隱

風露澹清晨,
簾間獨起人。
鶯花啼又笑,
畢竟是誰春。

Dậy sớm – Người dịch vô danh

Gió êm sương nhạt sớm mai,
Một mình thức dậy khoan thai trước mành
Hoa cười oanh hót trên cành
Gẫm xem xuân sắc trời dành cho ai?

[TKDG]Túc Kiến Đức Giang – Mạnh Hạo Nhiên

Di chu biệt yên chử,
Nhật mộ khách sầu tân.
Dã không thiên đê thụ,
Giang thanh nguyệt cận nhân.

宿建德江 – 孟浩然

移舟泊煙渚,
日暮客愁新。
野曠天低樹,
江清月近人。


Đêm ngủ ở Kiến Đức Giang – Trần Trọng Kim dịch

Dời thuyền đậu bến khói mây,
Chiều hôn xúc ảnh, khách ngây mối tình.
Đồng không trời thấp ngọn cành,
Nước sông trong vắt, trăng quanh cạnh người.

Ở lại sông Kiến Đức – Trần Trọng San dịch

Dời thuyền đến đậu bên bờ khói,
Sầu khách vừa dâng lúc tối trời.
Ðồng ruộng cây đem trời xuống thấp,
Sông trong trăng sáng đến gần người.


[TLQ]
Trúc lý quán – Vương Duy (699 – 759)

Độc tọa u hoàng lý,
Đàn cầm phục trường khiếu.
Thâm lâm nhân bất tri,
Minh nguyệt lai tương chiếu.

竹里館 – 王維

獨坐幽篁裡,
彈琴復長嘯。
深林人不知,
明月來相照。

Trần Trọng Kim dịch

Một mình giữa đám rừng tre,
Đánh đàn cao hứng hát nghe một bài.
Rừng sâu nào có ai hay,
Bóng trăng đâu đến chiếu ngay vào mình.

Quán trúc lý Trần – Trọng San dịch

Một mình trong khóm trúc
Gảy đàn rồi hát chơi
Rừng sâu không kẻ biết
Trăng sáng chiếu lên người.


[TNDVN]Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt – Vương Kiến  (Trung Ðường)

Trung đình địa bạch thụ thê nha,
Lành lộ vô thanh thấp quế hoa.
Kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng,
Bất tri thu tứ tại thùy gia.

十五夜望月 – 王建

中庭地白樹棲鴉,
冷露無聲濕桂花。
今夜月明人盡望,
不知秋思落誰家。
 
Ðêm Rằm trông trăng – Bản Dịch Trần Trọng Kim (trang 445)

Cây đầy quạ, giữa sân đất trắng,
Hoa quế đầm, lẳng lặng sương rơi.
Ðêm nay thưởng nguyệt bao người,
Chẳng hay thu của riêng ai một nhà.

[TNHT]Thu nhật hồ thượng – Tiết Oánh

Lạc nhật ngũ hồ du,
Yên ba xứ xứ sầu.
Phù trầm thiên cổ sự,
Thùy dữ vấn đông lưu.

秋日湖上 – 薛瑩

落日五湖遊,
煙波處處愁;
浮沈千古事,
誰與問東流 。

Ngày thu chơi trên hồ – Trần Trọng Kim dịch

Ngũ hồ chiều tối tiêu dao,
Khói mây sóng nước, đâu đâu cũng buồn.
Nghìn xưa chìm nổi dòng tuôn,
Hỏi ai biết được nước nguồn ra đông.

Ngày thu dạo hồ – Hải Đà dịch

Nắng tàn dạo mát hồ trong,
Lăn tăn sóng nước gợi lòng cô liêu.
Sự đời trôi nổi đã nhiều,
Hỏi con nước chảy còn điều thở than ?


TQCHXH]Tự quân chi xuất hĩ – Cao Bá Quát

Tự quân chi xuất hĩ,
Dạ dạ thủ không sàng.
Hải nguyệt chiếu cô mộng,
Giang phong sinh mộ lương.
Tiểu kính ký viễn khiếp,
Hàn y lưu cố phường.
Trì thử các tự úy,
Bất khiển lưỡng tương vương!

自君之出矣 –高伯适

自君之出矣,
夜夜守空床,
海月照孤夢,
江風生暮涼,
小鏡寄遠篋,
寒衣留故房,
持此各自慰,
不遣兩相望 。

Từ thuở chàng ra đi – Hóa Dân dịch

Từ ngày anh ra đi,
Đêm đêm giường quạnh hiu.
Trăng khơi soi mộng lẻ,
Gió bến lạnh hơi chiều.
Áo rét em cất giữ,
Gương nhỏ anh mang theo.
Tạm để cùng yên ủi,
Không lạt tình thương yêu.


[TQCHXH2]
Tự quân chi xuất hĩ kỳ 2 – Trương Cửu Linh

Tự quân chi xuất hĩ,
Bất phục lý tàn ky (cơ).
Tư quân như mãn nguyệt,
Dạ dạ giảm quang huy.

自君之出矣其二 – 張九齡

自君之出矣,
不复理殘機。
思君如滿月,
夜夜減清輝。

Từ thuở chàng đi – Ngô Tất Tố dịch

Từ ngày chàng bước chân đi,
Cái khung dệt cửi chửa hề dúng tay.
Nhớ chàng như mảnh trăng đầy,
Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm.


[TQH]Tòng quân hành – Lệnh Hồ Sở (766 – 837)

Sóc phong thiên lý kinh,
Hán nguyệt ngũ canh thanh.
Tùng hữu hoàn gia mộng,
Do văn xuất tái thanh.

從軍行 – 令狐楚

朔風千里驚,
漢月五更青。
縱有還家夢,
猶聞出塞聲

Bài hát tòng quân – Trần Trọng Kim dịch

Gió may ngàn dặm đáng kinh,
Trăng thanh đất Hán, năm canh thẫn thờ.
Ví dù nằm mộng về nhà,
Còn nghe lịnh xuống truyền ra cõi ngoài.


[TTat]Thị Tật – Giác Hải Thiền Sư

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì,
Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ.
Hoa điệp bổn lai giai thị huyễn,
Mạc tu hoa điệp ứng tâm trì.

示疾 – 覺海禪師

春來花蝶善知時,
花蝶應須共應期。
花蝶本來皆是幻,
莫須花蝶向心持。

Dạy khi bị bệnh – Ngô Tất Tố

Xuân sang hoa bướm khéo quen thì,
Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ.
Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo,
Thây hoa, mặc bướm, để lòng chi.
(Văn học đời Lý)


TTich]Thị tịch – Đạo Hạnh Thiền Sư

Thu lai bất báo nhạn lai qui,
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị báo môn nhân hưu luyến chước,
Cổ sư kỷ độ tác kim sư.

示寂 – 道行禪師

秋來不報雁來歸,
冷笑人間暫發悲。
為報門人休戀著,
古師幾度作今師。

Nói khi sắp tịch – Ngô Tất Tố

Thu về chẳng báo nhạn theo bay,
Cười nhạt người đời uổng xót vay.
Thôi hỡi môn đồ đừng quyến luyến,
Thầy xưa mấy lượt hóa thầy nay.
(Văn học đời Lý)

[TThi]
Tạp thi – Vương Duy (699 – 759)

Quân tự cố hương lai,
Ưng tri cố hương sự.
Lai nhật ỷ song tiền,
Hàn mai trước hoa vị.

雜詩 – 王維

君自故鄉來,
應知故鄉事。
來日綺窗前,
寒梅著花未。

Tạp thi – Trần Trọng Kim dịch

Ở quê anh mới tới đây,
Việc quê anh biết đổi thay thế nào.
Hôm đi trước cửa buồng thêu
Cây mai mùa lạnh nở nhiều hoa chưa ?


[TXT]Tống xuân từ – Vương Duy (699 – 759)

Nhật nhật nhân không lão,
Niên niên xuân cánh qui.
Tuơng hoan hữu tôn tửu,
Bất dụng tích hoa phi.
送春詞 – 王維

日日人空老,
年年春更歸。
相歡在尊酒,
不用惜花飛。

Lời tiễn mùa xuân – Trần Trọng Kim dịch

Mỗi ngày người lại già thêm,
Năm qua năm tới lại đem xuân về,
Vui say vò rượu sẵn kia,
Công đâu mà tiếc làm gì hoa bay.

[VLSBB]Vọng Lư sơn bộc bố – Lý Bạch

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trực há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

望廬山瀑布 – 李白

日照香爐生紫煙,
遙看瀑布掛前川;
飛流直下三千尺,
疑是銀河落九天。
 
Tương Như dịch

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này:
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng giải Ngân Hà tuột khỏi mây.

[VTTC]Vô tật thị chúng – Viên Chiếu thiền sư

Thân như tường bích dĩ đồi thì,
Cử thế thông thông thục bất bi.
Nhược đạt tâm không vô tướng sắc,
Sắc không ẩn hiện nhậm thôi di

無疾示眾 – 圓照禪師
(三空– Tam không )

身如墻壁圮頹時
舉世匆匆孰不悲
若達心空無色相
色空隱現任推移

Ba không – Ngô Tất Tố dịch

Thân như tường vách đã lung lay,
Lật đật người đời, những xót thay.
Nếu được "lòng không" không tướng sắc,
"Sắc", "không", ẩn hiện, mặc vần xoay

Dịch Nghĩa : Không có bệnh bảo mọi ngườI

Tường xiêu vách đổ khác gì than
Tất cả vội vàng, ai chẳng buồn ?
Nếu biết "tâm không", không sắc tướng
Sắc không ẩn hiện mặc xoay vần

[XBHC]Xích Bích hoài cổ – Đỗ Mục

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu,
Tư tương ma tẩy nhận tiền triều.
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
Đồng tuớc xuân thâm tỏa nhị kiều.

赤壁懷古 – 杜牧

折戟沉沙鐵未銷,
自將磨洗認前朝。
東風不與周郎便,
銅雀春深鎖二喬。

Cảm hoài về trận Xích Bích – Trần Trọng Kim dịch

Mũi giáo gãy còn vùi duới cát,
Mài rửa đi, nhận vết tiền triều.
Gió đông chẳng giúp thuận chiều,
Trong đền Đồng tước, hai Kiều khóa xuân.

Bản dịch: Trần Trọng San

Giáo chìm, sắt vẫn còn trơ,
Rửa xem nhận biết triều xưa rõ ràng.
Gió Đông không giúp Chu Lang,
Khóa xuân Đồng Tước đã giam hai Kiều.

Xích Bích hoài cổ – Tương Như dịch

Cát vùi lưỡi kích còn trơ,
Rũa mài nhận dấu triều xưa rõ ràng.
Gió đông ví phụ Chu Lang,
Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều.

[XH]Xuân hiểu – Mạnh Hạo Nhiên [XH]

Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đế điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu.

春曉 – 孟浩然

春眠不覺曉,
處處聞啼鳥。
夜來風雨聲,
花落知多少。
 
Buổi sáng mùa xuân (Người dịch: vô danh)

Giấc xuân trời chợt sáng
Chốn chốn tiếng chim kêu
Đêm qua mưa lẫn gió
Hoa rụng biết bao nhiêu?


[YCC]Y Châu Ca – Cáp Gia Vận

Đả khởi hoàng oanh nhi,
Mạc giao chi thượng đề.
Đề thời kinh thiếp mộng,
Bất đắc đáo Liêu tây.

伊州歌 – 蓋嘉運

打起黄鶯児,
莫教枝上啼。
啼時驚妾夢,
不得至遼西。

Bài hát Y Châu – Trần Trọng Kim dịch

Nhờ ai đuổi hộ con oanh,
Đừng cho nó réo trên cành lao xao.
Làm cho thiếp tỉnh chiêm bao,
Liêu tây đi tới làm sao được chừ.


Bản dịch của Tản Đà-

Đập cho mất cái vàng anh,
chẳng cho nó ở trên cành nó kêu
Nó kêu tỉnh giấc chiêm bao
Liêu Tây chẳng được em theo đến chàng