Văn Học Nghệ Thuật‎ > ‎Thơ‎ > ‎2013‎ > ‎Đọc thơ Tứ tuyệt‎ > ‎

ĐTTT - h. Triết lý Phật học


7. Triết lý Phật học

Nói đến những bài tứ tuyệt về đề tài Phật giáo, văn học thời Lý ở Việt Nam có nhiều bài tiêu biểu của những vị đại thiền sư

Thị tịch – Đạo Hạnh Thiền Sư [TTich]

Thu lai bất báo nhạn lai qui,
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị báo môn nhân hưu luyến chước,
Cổ sư kỷ độ tác kim sư.

示寂 – 道行禪師

秋來不報雁來歸,
冷笑人間暫發悲。
為報門人休戀著,
古師幾度作今師。

Thu sang chẳng báo nhạn về,
Ngẫm cười mấy kẻ vụng về xót xa,
Môn sinh hãy chớ khóc ta,
Thầy xưa mấy độ hóa là thầy nay.
(Lời trối truớc khi tịch – LHP phóng tác)


Dưới đời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) bên Việt Nam, có một vị cao tăng rất nổi tiếng đó là Đạo Hạnh thiền sư. Bài thơ nói về khi thiền sư Đạo Hạnh sắp tịch có nhiều đệ tử khóc lóc thương tiếc, ngài khuyên rằng: Đời người như thời tiết bốn mùa thay đổi. Mùa thu đến chẳng báo tin cho cánh nhạn bay về. Kiếp người cũng vậy, khi chấm dứt cũng chẳng nên lấy làm đại sự. Ngài khuyên các môn đề đừng đau khổ xót xa trước sự ra đi của ngài: Cái chết của người thầy già là cơ hội cho các vì sư trẻ tiến lên thay thế.

oOo

Vô tật thị chúng – Viên Chiếu thiền sư [VTTC]

Thân như tường bích dĩ đồi thì,
Cử thế thông thông thục bất bi.
Nhược đạt tâm không vô tướng sắc,
Sắc không ẩn hiện nhậm thôi di

無疾示眾 – 圓照禪師

身如墻壁圮頹時
舉世匆匆孰不悲
若達心空無色相
色空隱現任推移

Thân như vách đổ than chi,
Thói đời vẫn thế có gì sầu thương.
Lòng không sắc tướng tâm tường,
Sắc không ẩn hiện, trần thường cứ xoay.
(Không bệnh bảo mọi người – LHP phóng tác)

Bài thơ này không có điều khó hiểu, nhưng muốn bình giảng cặn kẽ thì ta phải đề cập đến triết lý cơ bản của Phật học. Huyền Trang (Trần Vĩ hay Đường Tam Tạng) bỏ ra 13 năm ròng rã tây du để tìm hiểu Phật đạo, chép lại trong Tâm kinh [TKinh] vỏn vẹn có 260 chữ. Tâm kinh là tinh hoa cô động của bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn, trong Tâm kinh của Ngài có câu:

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử (1) ! Sắc bất dị Không. Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không. Không tức thị Sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.


(Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.
Nầy Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.)

Ngũ Uẩn trong bài kinh là năm điều ràng buộc (Uẩn - aggregate, sợi gai kết thành bó). Đó là: Sắc (form), Thọ (sensation), Tưởng (perception), Hành (impression) và Thức (conscience). Sắc là hình thế, vật lý của vạn vật, cũng là hiện thể của cái (hữu – being). Không có nghĩa là trái với sự có (vô), mà còn có nghĩa là khoảng trống rỗng (emptiness).

Sắc Không ẩn hiện có nghĩa như câu “Sắc chẳng khác gì Không, Không chẳng khác gì Sắc, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc” trong bài kinh dạy. Trần thường cứ xoay là chuyện đời có chân lý luân hồi, bánh xe tuần hoàn vẫn cứ xoay mãi. Nếu ta hiểu được chân lý Phật học, tâm trống trải (tâm không), lòng bỏ qua sắc tướng thì có gì trên cõi đời tạm bợ này – kể cả thân xác của mình – là đáng nói và để sầu thương?


(1). Xá lợi tử là một trong thập đại đồ đệ của đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

oOo

Tương tự như bài Vô tật thị chúng, bài Hữu không của Đạo Hạnh Thiền Sư còn nhắc lại

Hữu không – Đạo Hạnh Thiền Sư [HK]

Tác hữu trần sa hữu,
Vi không nhất thiết không.
Hữu không như thủy nguyệt,
Vật trước hữu không không.

有空 – 道行禪師

作有塵沙有,
為空一切空。
有空如水月,
勿著有空空。

Bảo có, hạt bụi cũng là có,
Rằng không, tất cả đó là không.
Có không như bóng trăng dưới nước,
Đừng chắc có, không hẳn gì không!
(Có không – LHP phóng tác)


Trong bài thơ này phải hiểu rằng hữu nghĩa là có và chính là sắc, còn không nghĩa là không có (vô). Tức là “Có không khác Không. Không không khác Có. Có chính là Không. Không chính là Có”. Có hiểu được ý nghĩa của kinh Phật thì hiểu ý được bài thơ một cách dễ dàng.

oOo

Cũng đề tài “Có không khác Không. Có chính là Không.”, bài Thị đệ tử đề cập “hữu hoàn vô” (Có thành Không).

Thị đệ tử – Vạn Hạnh thiền sư [TĐT]

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn vật xuân vinh thu hựu khô.
Nhiệm vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

示弟子 – 萬行禪師

身如電影有還無,
萬木春榮秋又枯。
任運盛衰無怖畏,
盛衰如露草頭鋪。

Thân như ánh chớp có không,
Xuân sang cây lá trổ bông, thu tàn.
Thịnh suy có lúc đừng than,
Như sương trên cỏ đọng tan mấy hồi.
(Bảo học trò – LHP phóng tác)

oOo

Trước cám dỗ ở đời đối với người tu hành, trong bài Thị Tật của thiền sư Giác Hải, hoa điệp (hoa bướm) được nhắc đi nhắc lại trong cả bốn câu trong bài tứ tuyệt.

Thị Tật – Giác Hải Thiền Sư [TTat]

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì,
Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ.
Hoa điệp bổn lai giai thị huyễn,
Mạc tu hoa điệp ứng tâm trì.

示疾 – 覺海禪師

春來花蝶善知時,
花蝶應須共應期。
花蝶本來皆是幻,
莫須花蝶向心持。

Xuân về hoa bướm quen thì,
Hoa cười bướm lượn đúng kỳ lả lơi.
Bướm hoa hư ảo cõi đời,
Mặc cho hoa bướm, chẳng dời dạ ta.
(Dạy khi bị bệnh – LHP phóng tác)


oOo

Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), là một vì anh quân và là một anh hùng dân tộc mà sử sách còn nhắc lại qua hai cuộc chống xâm lược Nguyên Mông (năm 1285 và 1297), ngài còn để lại nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng. Bài Kệ vân trong bài phú Cư trần lạc đạo phú, nhà vua chứng tỏ ngài có một tâm hồn đạt đạo:

Kệ vân (Cư trần lạc đạo phú) – Trần Nhân Tông [KV]

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

偈云, 居塵樂道賦 – 陳仁宗

居塵樂道且隨緣
饑則餐兮困則眠
家中有寶休尋覓
對景無心莫問禪

Cõi đời vui đạo tùy duyên,
Đói ăn mệt ngủ, chẳng phiền điều chi,
Trong nhà ngọc sẵn tìm gì?
Vô tâm trước cảnh, hỏi chi đến thiền!
(Câu kinh kệ – LHP phóng tác)

Câu một: Trong cõi trần gian nhiều điều trái tai gai mắt và lòng vẫn vui với đạo.

Câu hai: đói thì ăn, khi mệt thì ngủ, đó là hành động tùy duyên theo lẽ tự nhiên.

Câu ba: Trong nhà có sẵn ngọc báu thì đừng tìm kiếm gì nữa. Trong mỗi người chúng ta điều có thiện tính – thiện tâm ở tại lòng ta – giống như một ngọc báu trong nhà. Đây là triết lý “tu tại gia” và “Phật tức tâm, tâm tức Phật”, đừng kiếm chi nơi đâu xa xôi vì Phật ở ngay trong nhà (hay tâm của ta).

Câu bốn: Đối với cảnh đời thế sự phức tạp, giữ sao cho lòng mình không dấy động – tịnh tâm – không màng thế sự, được như thế không cần thiền làm gì nữa.

oOo

Không Lộ thiền sư (? – 1119) là một vị cao tăng cũng dưới thời nhà Lý. Xuất xứ từ gia đình làm nghề chài lưới, ông hiểu rõ đời sống của xóm chài và ông có bài tiêu biểu Ngư nhàn để lại cho hậu thế.

Ngư nhàn – Không Lộ Thiền Sư [NN]

Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.
Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

漁閒 – 空露禪師

萬里清江萬里天,
一村桑柘一村煙。
漁翁睡羞無人喚,
過午醒來雪滿船。

Muôn dặm sông xanh, vạn dặm trời,
Làng dâu một xóm, khói đầy vơi.
Ngư ông say ngủ không người gọi,
Quá trưa thức giấc tuyết đầy rơi.
(Ngư nhàn – LHP phóng tác)