Đèo Hải Vân

Nhân lúc đọc bài viết về Lăng Cô, tôi nhớ về một cảnh đẹp của đất nước, trong một giai đoạn lịch sử cường thịnh với giai thoại về công chúa nước Đại Việt mà chính sử không ghi chép lại đầy đủ, chỉ còn phảng phất qua mấy câu ca dao truyền khẩu.

Gần Lăng Cô có một cảnh tuyệt đẹp về phía nam đó là đèo Hải Vân (còn gọi là Ải Vân) mà vua Lê Thánh Tông đã từng đặt cho danh hiệu "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" (cửa ải hùng tráng nhứt trên đời) từ thế kỷ thứ 15.

Trong một chuyến du lịch trên đường từ Huế vào Đà Nẵng để tới Phố cổ Hội An, tôi thấy được phong cảnh hùng vĩ ngoạn mục của "nước non ngàn dặm" - bên dưới là bãi biển cát trắng tuyệt đẹp Lăng Cô, nhìn lên là núi đèo Hải Vân cao vời hiểm trở. Đoạn đường này rất vất vã và nguy hiểm, và được mệnh danh là "con đèo tử thần", và từ xưa ca dao có câu

Đường bộ thì sợ Hải Vân,
Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi.


Cho đến ngày nay, mặc dù đường xe lửa Thống nhất an toàn hơn, thỉnh thoảng lại có tin xe lửa bị tai nạn. Năm 2005, Hầm Hải Vân đuợc khánh thành đi xuyên qua núi, đường qua lại trở nên dễ dàng hơn nhiều, nhưng nếu đi đường này ta không thấy được hết vẻ đẹp của đèo.

Tuyệt cảnh đèo Hải Vân gắn liền với lịch sử nam tiến của nước Việt Nam. Năm 1306, vua Trần Anh Tôn gả người em gái là Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Sính lễ của hôn nhân này là việc vua Chiêm sang nhượng lại hai châu Ô và Lý (Quảng Trị và Thừa Thiên). Ca dao dân gian (racist lỗi thời, nhưng đó là hồi xưa) còn nhắc lại tích này:
 
Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Ðể cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.


Theo truyền thuyết, câu ca dao diễn tả tâm trạng của Huyền Trân Công chúa lúc đang ở đất Chiêm Thành

Chiều chiều gió thổi Ải Vân,
Chim kêu ghềnh đá tủi thân thêm buồn.


Một năm sau đám cưới thì vua Chiêm mất, và theo luật của Chiêm Thành thì Huyền Trân phải bị hỏa tán (tuẫn tang) theo vua Chiêm. Vua Anh Tôn sai tướng Trần Khắc Chung tìm cách đem Huyền Trân Công chúa về triều. Tướng Trần Khắc Chung lập kế cứu được Huyền Trân đưa ra biển. Trên đường về kinh đô, chuyện tình giữa đôi tình nhân cũ trở nên sống động lại, cho nên Khắc Chung cứ để thuyền lên đênh trên biển Ðông, mãi đến một năm sau mới về đến Thăng Long. Ca dao bình dân có câu chỉ trích:

Tiếc thay hột gạo trắng ngần,
Ðã vò nước đục, lại gần lửa rơm.


Nước đục đây ám chỉ vua Chế Mân, còn lửa rơm là Trần Khắc Chung, cả hai đều không xứng đáng với Huyền Trân.

Về sau, có bài thơ bình về cuộc hôn nhân tính toán của vua Việt:

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
Lòng đỏ khá khen lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn nhẩn nhau mấy đứa Hời.
        
(Công chúa Huyền Trân - Hoàng Cao Khải)

Chính sử chép rằng tháng 8 năm Mậu Thân (1308), Huyền Trân về đến Thăng Long, và theo di mệnh của Thượng hoàng Trần Nhân Tôn, công chúa vào chùa quy y.

Qua đèo Hải Vân ta thấy được một "thiên hạ đệ nhất tuyệt cảnh", để nhớ và một chuyện tình muôn thuở trong một giai đoạn lịch sử nước Đại Việt hùng mạnh, tưởng như là đi lùi về dĩ vãng khoảng hơn 700 năm về trước. Theo cách nói bây giờ, đèo Hải Vân là một địa điểm hàng đầu cho một cuộc du lịch văn hóa...

Lý Hữu Phước

Tháng 8, 2011


Nota bene:  Đọc về đèo Hải Vân, xin mời nghe kèm các bài ca với giọng "Quỏng Nôm" sau để hiểu rõ tính văn hóa địa phương:

Mưa Chiều Kỷ Niệm - Ánh Tuyết
Tình bơ vơ - Ánh Tuyết
Nỗi buồn hoa Phượng - Ánh Tuyết

Em về kẻo trời mưa - Ánh Tuyết

Nguồn: QuangDaDFW