nắng hạ


Buổi sáng, khi bước vào sân trường, bất chợt tôi thấy chúng ngồi chụm đầu lại nhau, nói chuyện. Để ý, tôi thấy nhiều đưa tay còn cầm nắm xôi chưa kịp ăn, hoặc nách cặp đôi guốc, miệng nhai nhem nhép, đưa mắt theo dõi một cách thích thú câu chuyện mà thằng Tâm, đứa lớn nhứt bọn kể. Tự nhiên tôi muốn tự mình lánh đi ngay, đừng để chúng, bọn học trò quê mùa của tôi phát giác sự có mặt của mình, nhưng không kịp nữa, chúng đã quay lại và thấy tôi, phần đông vẫn giữ tư thế bất động, nhìn tôi, nhe hàm răng sún ra cười. Chúng đồng thanh thốt :

- Thầy

Tôi nhìn chúng, trìu mến và lách mình vội vàng vào lớp học, như có ý chạy trốn luôn sự hiện diện của chính mình. Tôi cũng không hiểu tao sao mình lại có thái đó vô lý ấy. Chắc có lẽ không khí ở miền thôn đã này đã uốn nắn cho tôi một tâm hồn trầm tĩnh như vậy ?

Tôi không nỡ cắt dứt câu chuyện của lũ học trò, nhưng, một cách máy móc, chúng đứng dậy và kéo nhau vào lớp học. Chúng tự tìm lấy chỗ ngồi của mình, vô tình bỏ quên sự hiện diện của ông thầy, một hai đứa ý từ hơn, đi ngang qua mắt tôi và cúi đầu chào, khép nép. Ở những vùng thôn quê hẻo lánh thế này việc học thường chẳng có tổ chức gì cả: thay vào lớp là học, thầy cho về là về, thầy không đi dạy là nghỉ học !

Việc đầu tiên tôi làm khi bắt đầu một buổi học là nhắc đi nhắc lại câu nói :

- Mấy em mang guốc dép vào, nó hoài mà không chịu sửa.

Sau phần điểm danh, tôi ra bài cho học trò. Chúng nhốn nháo, ồn ào khi để bài được viết lên bảng đen : "hãy cho biết dự định và cảm tưởng của trò về mùa hè sắp đến". Chúng than đề luận khó quá chăng ? hay tôi đã reo rắc vào tâm hồn chúng một biến cố lớn khi nhắc lại hai tiếng "mùa hè". Tôi ôn tồn bảo chúng :

- Thôi, làm bài đi, nói chuyện mãi...

Lũ học trò lại im lặng, chúng cắm đầu làm bài, tay hí hoáy viết, miệng cắn chặt hay liếm môi. Có vài đứa đưa bút lên trán, nhìn ra ngoài cửa sổ, suy nghĩ vẩn vơ, chợt bắt gặp cặp mắt tôi, chúng cười ngượng, rồi là cắm đầu xuống viết tiếp...

Lớp học im phăng phắc, chợt ngoài kia có tiếng ve kêu. Tiếng nỉ non của loài sâu bọ này có mãnh lực làm tôi buồn ray rứt. Tôi nhắm mắt, cố tìm lại những gì tiềm tàng trong điệu hát sầu thảm đó, cũng như trong mái trường làng lụp xụp, với tường vôi nứt rạn, loang lỗ này. Những gì ? Tôi không thể thấy được. Tôi cảm thấy nỗi tiếc ấu thời của mình, cũng như sẽ phải nuối tiếc những gì tôi sắp xa rời. Phải ! Có lẽ tôi xa rời xa mái trường làng này, xa rời đám học trò thân yêu của tôi. Tôi đã có ý nghĩ đó, khi hôm qua, một bức điện tín đến tay tôi, ông hiệu trưởng một tư thục lớn ở Saigon mời tôi về hợp tác với ông sau mùa hè này, càng sớm càng tốt. Saigon đã gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm từ đó. Nhưng rồi có đám học trò của tôi? Ồ, làm sao mà tôi có thể bỏ chúng để đi được ? Tôi có thể cho phép chúng nghỉ hè ngay buổi sáng hôm nay để thu xếp về Saigon ngày mai được, nhưng tôi không muốn làm chuyện đó. Và tôi đang bị đặt trong trường hợp khó xử !

Saigon đẹp thật, quyến rũ thật, nhưng tôi cũng cảm thấy bị ràng buộc ít nhiều với vùng thôn quê này rồi. Làm sao tôi có thể tìm lại được ở Saigon con đường làng nhỏ hẹp mà, ngày hai buổi dẫn tôi đến mái trường cùng lũ học trò thơ dại ? Làm sao có thể tìm lại được những buổi thầy trò rủ nhau đi tắm sông, câu cá ? Làm sao tìm lại được cảnh thầy trò chịu đựng chung những buổi học nóng nực, dưới sự thiếu đốt của mặt trời ? Và tôi đã phải trả lời với sự quyến rũ của Saigon bằng bốn tiếng "sẽ suy nghĩ lại". Tuy trả lời như thế, nhưng tôi biết rằng mình không có thì giờ để suy nghĩ lại đâu, nhưng tôi chưa thể buông một lời chấp nhận quá tàn nhẫn đối với lũ học trò của tôi...

Giòng tư tưởng của tôi bị cắt đứt khi có tiếng chí choé ở bàn dưới. Tôi hỏi :

- Cái gì đó ?

Một đứa học trò mà tôi nhận ra là Thành, thằng bé mà tôi ở trọ nhà, đứng dậy nói :

- Thưa thầy, trò Nam coi bài em, em nói, trò còn vẩy mực lên áo em.

Còn Nam, chưa đứng dậy đã bật khóc:

- Thưa thầy, không phải vậy, trò Thành coi bài em trước rồi trò chê là bài em hôi như mắm ruốc.

Tôi vội dấu một nụ cười để giảng hòa :

- Thôi, hai em ngồi xuống làm bài tiếp đi, còn cải nữa, thầy phạt.

Tôi chợt tìm được ở câu nói của mình một cái gì nữa trìu mến, nữa nghiêm nghị. Có lẽ những lời đó còn có hiệu nghiệm hơn cây thước hay cây roi nữa.

Sau một giờ rưỡi học, tôi cho học trò về. Chúng chốn nháo góp tập, rồi lại như lúc mới vào lớp, cặp guốc ngay nách dồn nhau ra cửa. Một vài đứa nhỏ khéo hơn, mang tạm đôi dép vào, đi ngang qua tôi cúi đầu chào, rồi lại đi chân không tỉnh bơ về nhà. Tôi bảo thằng Thành :

- Em ôm hộ thầy mớ tập này về, tối thầy coi.

Nó lễ mễ ôm chồng tập cao ngất theo tôi về nhà. Từ trường đến nhà thằng Thành, nơi tôi ở trọ cách nhau một khoảng đường ngắn, đi qua vài con ao nhỏ là đến trên đường về, tôi hỏi nó :

- Khi nãy, em chọc gì Nam vậy ?

Nó bẽn lẽn nhìn tôi, chỉ cười, không nói...

Buổi trưa ở thôn quê buồn lạ lùng, buồn và yên tĩnh, không một tiếng động, trừ tiếng kêu liên tục, buồn thảm của ve sầu và tiếng võng đưa kẽo kẹt. Tôi không tài nào chớp mắt được : trời nóng nực, không khí ấm thấp và nồng nặc.

Tôi rồi bỏ căn nhà nóng nực ấy, thả bộ trên con đường nhỏ dẫn đến trường học.

Sân trường vắng, lớp học cũng vắng. Tôi đi vòng ra sau cảnh u tịch làm tôi thoáng rùng mình. Những bụi tre xào xạc, nghiêng theo cơn gió nhẹ buổi trưa. Tiếng côn trùng rả rích, rõ nhất là tiếng ve sầu. Phía bên trái sân trường, có một cây phượng vĩ. Tôi không hiểu ai đã trồng nó và trồng từ khi nào. Cây phượng này chưa có hoa, những hình như nó đã đơm nụ. Tôi lấy tay rờ vào thân cây, và bỗng đọc được mấy giọng chữ đã thâm đen "kỷ niệm mùa hè 66". Tôi lấy một miếng miểng chai, định làm như người nào đó đã làm, nhưng tôi khựng lại. Có tiếng chân dẫm nhẹ trên thảm cỏ khô. Tôi quay lại và buông một tiếng ngạc nhiên :

- Ồ Thành !

Tôi hỏi nó : đi đâu đó em ? vừa hỏi, tôi vừa cười chữa thẹn. Thằng Thành cũng cười, nó trả lời :

- Em thấy trời nóng, nên đi múc nước cho thầy tắm...

Tôi cảm động : không sao em về đi, chờ thầy chút, thầy sẽ về tắm ngay. Thành đi rồi, tôi gạch với mấy chữ lên thân cây phượng “kỷ niệm hè 69”.

Buổi tối, sau khi dùng cơm, tôi soạn bài để coi. Thằng Thành không quên đem cho tôi một tách trà nóng. Dưới ánh sáng của chiếc đèn dầu, tôi từ từ dở từng bài luận. Tôi chỉ tìm được ở các bài luận đó những lời văn, ý nghĩ na ná giống nhau. Chúng viết văn thật thô sơ, ý nghĩ cũng nông cạn không kém, nhưng những bài luận đó chứng mình tâm hồn vô tư của chúng…

Chồng tập vơi đi dần, cho đến lúc cặp mắt của tôi đã đó nặng xuống như chì thì chồng tập ấy mới được chấm hết. Những lúc đặt mình lên giường, tôi lại cũng không tài nào ngủ được, Nhiều ý nghĩ lẩm cẩm múa may trong đầu tôi. Đến nửa đêm, vừa chớp mắt được thì có bóng người lên vào phòng tôi. Thằng Thành. Nó bước từng bước chậm đến bên giường tôi, và với tay đóng chiếc cửa sổ lại. Tôi vụt dậy : thằng bé kinh hãi lùi ra sau. Tôi ôn tồn hỏi nó :

- Em vô đây làm gì giờ này ?

Nó ấp úng mãi mới trả lời được.

- Thưa thầy, em thấy thầy nằm bên cửa sổ, em sợ thầy lạnh nên vợ đóng cửa lại cho thầy.

Tôi cảm động bảo nó :

- Thầy không lạnh, trời hè nực quá mà em.

Thằng Thành cúi đầu ngượng ngập bước vội ra cửa. Tôi ân hận vì câu nó của mình lắm, nhưng cũng đành thôi. Và sau khi nó đi rồi, bỗng tự nhiên tôi ngủ được, ngủ vùi một giấc đến sáng, trễ cả giờ học lúc nào không hay.

Bây giờ thì không do dự gì cả nữa, tôi đã quyết định : tôi sẽ ở lại với lũ học trò bé nhỏ của tôi. Saigon đối với tôi bây giờ không còn một sức quyến rũ gì nữa cả. Làm sao những đại lộ rộng thênh thang của đô thị có ý nghĩ bằng con đường làng phủ đầy bụi đỏ ? Làm sao những tư thục rộng lớn, sang trọng ở Saigon thơ mộng bằng mái trường làng nghèo lụp xụp được ?

Tôi mở rộng cửa sổ, không khí ban mai tràn vào. Nhìn sang bên sân trường, lũ học trò của tôi đang đùa giỡn vô tư ! Và ! ô kìa ! Cây phượng đã trổ bông rồi. Từng chùm bông đỏ tía khoe màu dưới ánh nắng đầu hạ. Đâu đây, tôi còn nghe văng vẳng những câu hát dễ thương:

                Phượng vĩ nở thắm bầu trời
                Nắng h
về ấm tình người

trần thiện chính (4e)

(trích Tiến Hè 70)