Bức họa trăm năm

Học cùng lớp với tôi tại trường nội trú Lasan Mossard, Thủ Đức, có hai bạn Lương Lễ Chuẩn và Nguyễn Tấn Phước, người gốc Thủ Dầu Một, là con của hai vị giáo sư hội họa trường Mỹ Nghệ Bình Dương. Đúng là “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” vì Chuẩn và Phước vẽ tranh, họa hình rất giỏi. Nhờ vậy mà lớp chúng tôi năm nào cũng đứng đầu trường về cuộc thi trang hoàng lớp học trong dịp lễ Giáng Sinh. Hai bạn nầy họa theo hình mẫu các khung cửa kính nhà thờ, vẽ viết chì vào những miếng cạt tông, chúng tôi dùng kéo và lưỡi lam cắt rồi dán giấy màu. Ban đêm chung tôi gắn những bức tranh bằng kính giả tạo nầy vào khung cửa sổ lớp học, mở đèn nê-ông trong lớp, bên ngoài trời tối xem rất đẹp.

Năm học lớp sáu, Chuẩn ngồi cùng bàn với tôi. Vì vậy mà hai đứa chúng tôi chơi thân với nhau, có sách vở gì cũng chia nhau đọc. Vài tuần lễ trước Tết năm đó, Chuẩn cho tôi mượn một quyển tạp chí Thế giới Tự do có đăng một bài nói về Tây Tạng cùng hình ảnh các tượng Phật và chùa chiền xứ ấy. Có hình một tượng Phật tôi cứ nhìn thấy hoài vì thấy... quen quen, rồi mới nghĩ ra một người bác họ đi tu khất sĩ có khuôn mặt hao hao giống Đức Phật trong tượng. Đó là bác Chín Cường, cháu kêu bà nội lớn của tôi bằng dì ruột. Hàng năm bác ôm bình bát về thăm Nội và gia đình ba má tôi vài lần. Mỗi Tết, đến mùng bốn bác mới về, không sai hẹn. Có lần tôi hỏi bác sao không về thăm nhà trước Tết, rồi ở chơi luôn đến ra giêng, bác cười và nói đùa rằng, từ mùng một đến mùng ba là những ngày làm ăn lớn nhất trong năm của tao mà mậy. 

Tôi muốn cho bác tôi xem hình tượng Phật Tây Tạng vì nghĩ rằng bác sẽ thích lắm khi thấy mình giống Đức Phật. Vì vậy tôi nói với Chuẩn lý do và xin nó quyển tạp chí, nhưng nó bảo không được vì nó mượn của một đứa bạn khác lớp. Tuy nhiên, Chuẩn cười và nói, không sao, để tao họa lại tấm hình nầy cho. Chuẩn bỏ suốt nửa giờ học bài sao lại hình tượng Phật bằng viết chì trên giấy vẽ cứng, không những lớn gấp đôi tấm hình gốc mà trong có hồn hơn nữa. Khi soạn sách vở về nhà ăn Tết, tôi cẩn thận đặt bức họa vào một quyển vở cho khỏi bị gãy. Nhưng rồi những nôn nóng nghỉ học về quê Tây Ninh ăn Tết là tôi quên bững nó đi. 

Lần nào tôi về thăm nhà, Nội cũng bảo tôi đưa cho Nội xem tập vở. Nội chú ý nhất tập chánh tả, luận văn và toán. Nội không hề hỏi sổ điểm của tôi. Ngày đầu về nghỉ Tết, cơm nước xong xuôi, không đợi Nội nhắc, tôi cẩn thận để chồng vở ngay ngắn trên bàn của Nội. Nội nói để đó Nội xem. Trưa hôm sau, anh em tôi đang chùi đánh bóng mấy bộ lư trước nhà thì bà ba bảo tôi vào Nội gọi. Bà ba vai em chú bác với bà nội của tôi, chồng con mất sớm, ở cùng gia đình ba má chúng tôi chăm sóc Nội tôi từ khi ông bị tê bại vì đứt gân máu mà bây giờ người ta gọi à tai biến mạch máu não. Tôi lo lắng, nghĩ thầm, thôi rồi, chắc Nội gọi để rầy về bài luận văn bê bối đến giờ chót tôi mới làm vì mê chơi bóng rổ, thầy François phê bằng viết mực đỏ rất thậm tệ. Còn vài ba bước là tới bàn viết của Nội, tôi ngừng lại, tần ngần, đứng xớ rớ. Nội ngước đầu lên, ngoắt tôi lại gần, vẻ mặt thấy vui lắm. Nội nói, lại đây ông biểu. Tôi hăng hái bước đến gần. Nội vò đầu tôi, đưa cho tôi xem bức họa tượng Phật thằng Chuẩn vẽ, tôi kẹp trong cuốn vở mà quên lấy ra. Nội hỏi, con vẽ tấm hình này hả? Tôi nhình Nội, gương mặt ông hiền lành, đôi mắt ông sáng, miệng ông mỉm cười với nỗi sung sướng sao thấy thương quá. Tôi biết tôi phải nói dối vì tôi không thể để nụ cười đó tắt trên môi ông. Tôi gật đầu mà mắt không muốn nhìn Nội. Lúc đó ba tôi trờ tới nói, thưa ba, có chuyện gì mà ba cho dì ba gọi con. Nội cầm bức họa, đưa cho ba tôi, nói lấp bấp, rung rung, không như thường ngày, giọng của một hân hoan bất ngờ, một hãnh diện đầy thích thú, đây nè... đây nè... mầy coi nè... tao biết cháu tao đứa nào cũng giỏi, cũng có tài, có khiếu. Nhưng tao không ngờ một đứa có bàn tay, có đầu óc nghệ thuật như vầy. Mầy coi nè... thằng con mầy nó vẽ hình thằng Cường ngồi thiền, không trơ trơ như cây, như đá, mà có nét sống, lại có vẻ thanh thản nữa, giống hệt như thằng Cường vậy đó. 

Tối hôm ấy tôi trằn trọc đến quá nửa đêm, ngủ không được vì mặc cảm nói dối với Nội và nhất là sợ ngày nào Nội bảo tôi vẽ cái gì đó thì làm sao tôi vẽ được. Đến khi ấy còn xấu hổ hơn nữa. Tôi đánh thức anh năm tôi dậy, kể tự sự cho anh nghe và hỏi anh tôi phải làm sao. Anh còn mê ngủ, trả lời làu nhàu, tao không biết vì tao có bao giờ nói láo với Nội đâu, rồi anh ngủ tiếp. Tôi không còn cách nào hơn là thú thiệt rồi ra sao thì ra. Tôi quyết định như thế và nhờ vậy mà tôi ngủ được ngay. 

Sáng hôm sau tôi kể đầu đuôi góc ngọn cho ba tôi nghe. Tôi tưởng ông ta la cho tôi một trận nên thân, nhưng ông chỉ cười và nói, hôm qua ba thấy điệu bộ của con ba nghi rồi, nhưng ba để xem con quyết định như thế nào là trái, là phải. Con thấy hậu quả của sự nói láo rồi phải không? Bây giờ con phải làm gì? Tôi mừng trong bụng vì thoát nạn bị đòn, tôi ấp úng, con... con xin lỗi ba, rồi con sẽ nói thiệt với Nội, xin lỗi Nội. Ba và Nội phạt gì con cũng sẽ phải chịu hết. Ông vò đầu tôi, nghiêm nghị nói, con đã biết học lẽ phải từ cái lỗi lầm, ba không phạt con đâu. Nhưng con phải nhớ cái gì con biết thì nói mình biết, cái gì không thì nói không. Đừng có quen cái thói... người ta nói sao... à... đừng có quen thói mạo nhận mà có xấu hổ cái tấm thân. Con lên nhà trên xin lỗi Nội đi. 

Nét mặt Nội tôi thoáng buồn sau khi nghe tôi nói lời xin lỗi Nội, ri thú nhận bức họa Đức Phật do thằng bạn, ba nó là giáo sư hội họa, nó có hoa tay mà họa ra chứ không phải do tôi vẽ. Tôi đứng khoanh tay, như trời trồng, lòng xót xa muốn khóc vì đã làm Nội buồn. Tôi chờ Nội rầy, nhưng lại mỉm cười và âu yếm nói, tốt, con biết phải quấy, biết xin lỗi Nội là tốt rồi. Nhưng sao con lại nói láo với Nội như vậy? Tôi lắp bắp, con... con sợ Nội buồn vì con không có tài giỏi như Nội mong muốn, con không có khiếu gì hết. Nội đưa tay ngoắt tôi lại gần. Con lại đây, ngồi gần bên Nội. Sao con nghĩ vậy? Trời Phật sanh ta ai ai cũng có tài riêng của mình, ai ai cũng có năng khiếu hết. Có một số ít người như bạn con, cái khiếu nó lộ ra sớm. Còn lại phần đông, ai cũng phải học hỏi, nhờ đó mà phát huy năng khiếu của mình. Tôi ngồi xuống bên Nội, Nội nắm tay tôi, tay Nội nhăn nheo, trổ đầy đồi mồi. Nội già rồi, không biết còn sống được bao lâu nữa. Tôi muốn nói, Nội ơi, con muốn ngồi với Nội như vầy hoài để nghe Nội dạy, nhưng tôi không thốt được lời nào. Nội nói tiếp, như Nội đây lúc nhỏ nhà nghèo Nội đi chăn trâu, lúc đó Nội đâu có khiếu gì đâu ngoài cái tài đánh lộn và lùa trâu đi ăn cỏ. Nhờ phước đức Ông Bà, Nội được đi học rồi làm thầy giáo, lúc đó Nội mới thấy mình có khiếu dạy học trò, rồi Nội tiếp tục học hỏi phát huy thêm cái năng khiếu đó. Con đừng lo con có năng khiếu mà, bây giờ con cứ ráng học cho giỏi là Nội mừng rồi. Tôi ấp úng, dạ con sẽ luôn cố gắng học giỏi cho Nội vui. 

oOo 

Hơn 40 năm qua từ ngày giáp Tết đó, tôi có học hội họa, môn nhiệm ý, ở trung học rồi đại học. Tôi cũng có theo lớp chụp ảnh nữa. Nhưng tôi chưa vẽ được một bức tranh nào ra hồn, chưa chụp được tấm hình nào coi được mắt. Bằng chứng là tôi có chụp hình ảnh tiền đường nhà Nội vài lần mà chưa vừa ý. Cách đây hai năm, cháu Duy con anh tư tôi về thăm nhà, cháu chụp một tấm ảnh duy nhất tiền đình nhà Nội. Tôi cứ trầm trồ khen hoài, rồi khoe người này đến người nọ, bảo họ xem hai tấm hình chụp cùng một tĩnh vật. Ai cũng đồng ý tấm ảnh của tôi chụp không có “hồn” trong khi tấm ảnh của cháu Duy nói lên được sự rực rỡ, sự trang nghiêm cùng cái ấm cúng của ngôi nhà xưa của Nội. Nói tóm lại, cháu tôi có cặp mắt, có bàn tay nghệ thuật, còn tôi thì không ngơ. 

Thật ra, tôi có họa được một bức tranh rất thần tình mà không ai biết, nhưng tôi không vẽ nó bằng cọ, trên giấy, trên vãi, trên lụa, mà bằng trí óc và trong tâm khảm của tôi. Đó là bức họa năm xưa tôi hình dung gương mặt Nội tôi chuyển từ thoáng buồn sang vui vẻ an ủi tôi và khuyến khích tôi cố gắng trên đưng học hỏi. Tôi giữ mãi trong lòng bức tranh tuyệt vời ấy và tôi sẽ cố gắng tận tình mà tả nó cho đám con cháu để chúng cũng nhận thức được nét truyền thần của bức họa của tôi. Tôi gọi đó là Bức Họa Trăm Năm. 


Trần Anh Dũng

Tết 2003



Ý Kiến / Đề nghị