Tản mạn về câu đối Tết


Ngày xưa mỗi dịp Xuân về người ta làm những bài thơ, câu đối để vừa mừng Xuân vừa chúc Tết cho bạn bè, chứ đâu có dùng thiệp Xuân, e-card hay là e-mail như ngày nay để chúc tụng cho nhau. Theo truyền thống, dịp Tết người ta thường dán những câu đối ở những nơi công cộng, ở nơi Iàm việc, văn phòng và tư gia để mừng Xuân, tạo nên không khí Tết.

Hai câu đối tiêu biểu cho mùa Xuân, thuộc về hàng “cổ điển” mà người Việt ai ai cũng biết. Nó tả được màu sắc và phong cách ăn Tết của cả dân tộc.

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ;
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Và câu đối tả về cảnh dán câu đối và trồng cây nêu để ăn Tết trong phong tục Việt Nam

Duyên với giang sơn nên dán chữ;
Nợ gì trời đất phải trồng nêu.

(Bà Huyện Thanh Quan)

Nói đến câu đối Tết, tôi nhớ lại hồi còn học Cổ văn trong những năm Trung học với những câu đối danh tiếng:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới;
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào.

(Hồ Xuân Hương)

Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa;
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

(Nguyễn Công Trứ)

Nực cười thay! Nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết;
Thôi cũng được! Rượu có, nem có, bánh chưng đều có, thừa Xuân.

(Tú Xương)

Già trẻ gái trai đều khoái Tết;
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân.

(Nguyễn Khuyến)

Câu đối cổ thường được dùng trong nhiều hoàn cảnh vui buồn, đám cưới, đám tang, thăng quan tiến chức, thi đậu... từ chốn trang nghiêm như đình chùa, quan trường đến chỗ bạn bè chơi đùa văn chương. Còn trong câu đối Tết, người xưa dùng câu đối để tả cảnh Tết hơn là thật sự chúc Tết. Tuy nhiên cũng có câu đối Tết chúc mừng những điều lành, may mắn trong năm:

Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ;
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.
(Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ,
Xuân khắp vũ trụ, phúc khắp nhà.)

Niên hữu tứ thời, xuân vi thủ;
Nhân sinh bách hạnh, hiếu vi tiên.
(Một năm có bốn mùa, mùa Xuân là khởi đầu;
Người ta có trăm tính, hiếu thảo thì trước tiên.)

Thọ tự Nam Sơn;
Phúc như Đông hải.
(Sống thọ tợ núi Nam.
Phước đức như biển Đông)

Tân niên hạnh phúc bình an tiến;
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai.
(Năm mới hạnh phúc bình an đến;
Ngày Xuân vinh hoa phú quý về.)

Có nhiều giai thoại về câu đối Tết của những thi sĩ danh tiếng. Nguyễn Khuyến nổi tiếng về tài ứng khẩu câu đối. Truyện kể rằng: gần Tết có người hàng xóm bảo con mang một cơi trầu sang thưa với cụ để xin một câu đối về thờ ông bà. Cụ Tam Nguyên không ngần ngại chép ngay hai câu đối:

Kiếm một cơi trầu thưa với cụ;
Xin đôi câu đối để thờ ông.

Cũng gần ngày Tết, có người bán thịt heo mang tặng cụ một chén tiết canh và một cặp cật heo (đôi bồ dục) và xin hai câu đối Tết. Nguyễn Khuyến bèn cho ngay hai câu:

Tứ thời bát tiết canh chung thủy;
Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang.

Câu đối Tết của Nguyễn Khuyến tả về cô Tư Hồng mà ta có thể hiểu hai nghĩa: Nghĩa thanh thì đó là sự chuyển hành âm dương của vũ trụ, còn nghĩa tục thì là tả cảnh nghề nghiệp của cô Tư !

Mở toang ra, toác toạc toàng toang, nền tạo hóa chia lìa đôi mảnh;
Khép kín lại, khít khịt khìn khin, máy âm dương đưa đẩy một then.

Và hai câu đối Tết sau của Nguyễn Công Trứ làm cho một người mù:

Tối ba mươi nghe pháo Giao thừa, ờ ờ Tết;
Rạng mồng một vấp nêu Nguyên đán, à à Xuân.

Tuơng truyền, Cao Bá Quát làm đôi câu đối sau vào dịp Tết:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm;
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.

(Hàng chục năm giao du để tìm bậc anh hùng;
Một đời ta luôn cúi đầu vái lạy hoa mai.)

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có hai câu đối Tết cho mấy cô đầu:

Ai đẻ mãi ra Xuân, Xuân ấy đi, Xuân khác về, năm nay năm ngoái Xuân hơn, kém?
Nhà lại sắp có khách, khách quen vào, khách lạ đến, năm ngoái năm nay khách vắng, đông?

Chữ “khách” trong vế dưới có nghĩa là người đến thăm và cũng có nghĩa là khách làng chơi của cô đầu.

oOo

Trong thời buổi cyberspace ngày nay, ta thấy có những câu đối tân thời chúc Tết phổ biến trên Net:

Đong cho đầy Hạnh phúc,
Gói cho trọn Lộc tài,
Giữ cho mãi An khang,
Thắt cho chặt Phú quí.

Lại có câu đối về cảnh người xa nhà vào dịp Tết:

Xuân tha hương, sầu thương về quê mẹ;
Tết xa nhà, buồn bã nhớ quê cha.

Tết tha hương có bánh chưng, bánh tét sao không thấy Tết;
Xuân viễn xứ cũng cành đào, cành mai mà chẳng gặp Xuân.

Xuân tha hương, nhấp giọt rượu sầu, nhớ vòm trời đất nước !
Tết xứ người, hớp ngụm café đắng, thương mảnh đất quê nhà !

Làm ta nhớ lại câu đối năm xưa của Nguyễn Khuyến, tả tâm tình của kẻ tha hương:

Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc;
Lung linh ánh lữa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn.

Sau này, người ta càng sáng tạo dùng nhiều bài thơ chúc Tết thay cho câu đối:

Cung chúc tân niên,
Sức khỏe vô biên,
Thành công liên miên,
Hạnh phúc triền miên,
Túi luôn đầy tiền,
Sung sướng như tiên.

Tết năm rồi ở Sài gòn, tôi thấy có hai câu thơ chúc Tết của dân chơi (chạy) về sự thu nhập tiền bạc trong năm mới:

Tiền dzô như nước sông Đà,
Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin…

Ngoài những câu đối và những bài thơ chúc Tết, ở Việt Nam bây giờ – thời buổi “kỷ thuật số” (digital age) – người ta còn nghe những lời chúc Tết chơi chữ toàn là số!

Số một (1)

Chúc bạn có:
một bầu trời sức khỏe,
một biển cả tình thương,
một đại dương tình bạn,
một điệp khúc tình yêu,
một người yêu chung thủy,
một sự nghiệp sáng ngời,
một gia đình thịnh vượng.

Chúc ông bà một tô như ý,
Chúc cô chú một chén an khang,
Chúc anh chị một dĩa… tài lộc!

1 năm mới,
1 tuổi mới, nhiều bạn mới, nhiều hiểu biết mới và
1 lời chúc mãi mãi hạnh phúc bên gia đình và những người thân yêu nhất.

Số 1, 2, 3, 4

Chúc năm mới thành công: 1 vợ, 2 con, nhà 3 tầng, xe 4 chỗ !

Số trong một năm về tháng, ngày, giờ...

Chúc 1 năm mới vui vẻ,
12 tháng sức khoẻ,
52 tuần thành công,
365 ngày hạnh phúc,
8.760 giờ tốt lành,
525.600 phút may mắn,
31.536.000 giây như ý…

Số thập phân

Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến.
Xin kính chúc:
ngàn (1.000) sự như ý,
vạn (10.000) sự như mơ,
triệu (1.000.000) sự bất ngờ,
tỷ (1.000.000.000) lần hạnh phúc…

Những bài thơ này có lẽ theo gương câu đối Tết (chơi chữ bằng số) của cụ Tú Xương hồi xưa:

Ba vạn sáu ngàn ngày, góp lại chốc đà trăm bận Tết;
Một năm mười hai tháng, ước chi đủ cả bốn mùa Xuân.


oOo

Đầu Xuân năm nay, nâng ly rượu mừng để cùng vui với thiên nhiên cảnh vật, nhớ đến cảnh Tết năm xưa ở quê nhà, tâm hồn bay bổng và cảm hứng tôi viết vài câu để góp vui vào dịp Tết:

Nâng chén rượu ngâm nga kính chúc,
Một mùa Xuân hạnh phúc quê nhà.
Chúc mừng thân hữu gần xa:
Năm mới phát đạt, muôn nhà bình an.

Khai bút viết vài hàng đón Tết,
Gửi điều lành đến hết càn khôn,
Thơ Xuân vạn vật mơ hồn,
Trời vui, đất thuận, tâm hồn lên mây !

(Cung Chúc Tân Xuân 2013 – LHP)

Lý Hữu Phước
Xuân Quý Tỵ 2013

Ly Rượu Mừng - Phạm Đình Chương - Hợp ca


I. Tài liệu tham khảo:
  • Thú chơi câu đối – Nguyễn Văn Ngọc, NXB Thông Tin 2001
  • Những nguồn từ Internet về câu đối Tết
II. Phụ lục:
Phần sưu tầm những câu đối Tết xưa

#
Câu đối
Giải thích
 1 Duyên với giang sơn nên dán chữ;
Nợ gì trời đất phải trồng nêu.
(Bà Huyện Thanh Quan)
Vế trên nói về phong tục dán câu đối trong ngày Tết.

Vế dưới nói về sự trồng cây nêu trong dịp Tết để chỉ rằng nơi đó là đất của Phật, để cho ma quỉ không dám đến.

2
Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới;
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào.
(Hồ Xuân Hương)

càn khôn: Vũ trụ, Trời đất
3
Bầu một chiếc lăn chiêng mặc sức: Tam dương khai thái;
Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ: Ngũ phúc lâm môn.
(Nguyễn Công Trứ)

Tam dương khai thái: ba khí dương mở sự thịnh vui.

Ngũ phúc lâm môn:  Năm điều phúc tới cửa, đó là:
  • Thọ (sống lâu)
  • Phú (giàu có)
  • Khang ninh (mạnh khoẻ, yên vui)
  • Du hiếu đức (ưa làm phúc)
  • Khảo chung minh (sống tới hết số mệnh)
Câu đối tả thời hàn vi của Nguyễn Công Trứ, Tết đến bỏ mặc tất cả, chỉ ngả nghiêng cầm bầu rượu uống say lăn chiêng.

4
Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa;
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
(Nguyễn Công Trứ)


5
Ðấp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng;
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm.
(Nguyễn Công Trứ)

 
6
Ðuột trời ngất một cây nêu, tối ba mươi ri là Tết;
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa cũng Xuân.
(Nguyễn Công Trứ)

 
7
Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng;
Giật nêu đóng lại, cho làng nước biết không xiêu.
(Nguyễn Công Trứ)

Việc đốt pháo để cho thiên hạ nghe tiếng và trồng nêu là để cho làng nước biết Tết đến chứ không có thực dụng gì cả.
8
Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi;
Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng.
(Nguyễn Công Trứ)

Be củ tỏi: vỏ chai nhỏ có hình củ tỏi hồi xưa dùng đựng rượu.
Chuyện cà riềng: chuyện cà kê.

Nhà nghèo trống trơn, nợ nần chưa trả, chỉ có vài chai rượu nhỏ để vui Xuân.

9
Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết;
Sáng mồng một, rượi tràn quí tị, ái chà Xuân.
(Nguyễn Công Trứ)


10
Tuế phùng Xuân, tân cảnh, tân thiều, tân vũ lộ;
Thời hành Hạ, cựu bang, cựu điển, cựu xa thư.
(Nguyễn Công Trứ)

Năm gặp mùa Xuân, cảnh sắc mới, thiều quang mới, mưa móc mới;
Thời theo nhà Hạ, nước non xưa, điển tích xưa, sách vở xưa.

11
Ba vạn sáu ngàn ngày, góp lại chốc đà trăm bận Tết;
Một năm muời hai tháng, ước chi đủ cả bốn mùa Xuân.
(Tú Xương)

 
12
Đào tiên đã chín hay chưa, bác mẹ em già, chắp cánh bay lên xin một quả;
Đối Tết không hay cũng dán, bà con ai biết, dừng chân đứng lại ngắm vài câu.
(Tú Xương)

 
13
Không dưng Xuân đến chi nhà tớ;
Có lẽ nào trời đóng cửa ai.
(Tú Xương)


14
Nực cười thay! Nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết;
Thôi cũng được! Rượu có, nem có, bánh chưng đều có, thừa Xuân.
(Tú Xương)

 
15
Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo;
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi.
(Tú Xương)

xác: kiệt hết cả, không còn gì nữa.
bôi vôi: Tục Tết xưa, người ta rắc bột vôi xuống đất làm hình cung, tên, bàn cờ.

16
Vui Xuân, vui cả một trời, có lẽ đâu đâu đâu cũng vậy;
Học sách, học cho hết sách, hay là thế thế thế mà thôi!
(Tú Xương)


17
Xuân về chớ để Xuân đi, thương kẻ quạt nồng cùng ấp lạnh;
Năm mới khác gì năm cũ, vạn người bán muối với mua vôi.
(Tú Xương)

 
18
Dán Câu Đối Tết – Tú Xương

Nhập thế tục bất khả vô văn tự, (a)
Chẳng hay ho cũng nghĩ một vài bài.
Huống chi mình đã đỗ Tú tài,
Ngày Tết đến cũng phải một hai câu đối.

Đối rằng :
Cực nhân gian chi phẩm giá phong nguyệt tình hoài, (b)
Tối thế thượng chi phong lưu giang hồ khí cốt. (c)
Viết vào giấy dán ngay lên cột,
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay.
“Rằng hay thì thực là hay,
Chẳng hay sao lại đỗ ngay Tú tài?
Xưa nay em vẫn chịu ngài.

Chú thích:

(a) Vào đời không thể không có chữ nghĩa.
(b) Phẩm giá cao nhứt ở nhân gian là tấm tình với gió trăng.
(c) Phong lưu bậc nhứt trên đời là khí phách giang hồ.

19
Đêm ba mươi nghe tiếng pháo nổ... Đùng!... ờ ờ... Tết;
Sáng mùng Một ra chạm niêu đánh... Cộc !... á à... Xuân.
(Nguyễn Khuyến)

 
20
Già trẻ gái trai đều khoái Tết;
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân.
(Nguyễn Khuyến)
 
 
21
Mở toang ra, toác toạc toàng toang, nền tạo hóa chia lìa đôi mảnh;
Khép kín lại, khít khịt khìn khin, máy âm dương đưa đẩy một then.
(Nguyễn Khuyến)

Câu đối Tết cô Tư Hồng có hai nghĩa: Nghĩa thanh thì đó là sự chuyển hành âm dương của vũ trụ, còn nghĩa tục thì là tả cảnh nghề nghiệp của cô Tư.
22
Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc;
Lung linh ánh lữa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn.
(Nguyễn Khuyến)

 
23
Thiên hạ dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó;
Ông nay khôn bất trị, rưọu say tuý luý lại nằm mèo.
(Nguyễn Khuyến)

Ý than đời, thời thế.
Dù Tết đến, có gì vui mà đót pháo ầm ỹ? Chi bằng uống rượu say rồi lăn ra nằm (cũng vô ích). Cái dại của thiên hạ cũng chưa thật là dại, còn cái khôn của cụ chưa thật là khôn, nhưng Tết đến hãy vui say cùng rượu.

24
Ủa! Tết đến rồi đó, chẳng lẽ trơ cùi cùng tuế nguyệt;
Kìa! Xuân sang đấy ư, thôi đành mở múi với giang sơn.
(Nguyễn Khuyến)
 
tuế nguyệt:  Năm tháng
25
Xuân vẫn còn dài, hướng đến tương lai vùng đất mới;
Tết dù đã ngắn, quay nhìn dĩ vãng cảnh người xưa.
(Nguyễn Khuyến)

 
26
Ai đẻ mãi ra Xuân, Xuân ấy đi, Xuân khác về, năm nay năm ngoái Xuân hơn, kém?
Nhà lại sắp có khách, khách quen vào, khách lạ đến, năm ngoái năm nay khách vắng, đông?
(Tản Đà)

Câu đối Tết Tản Đà làm cho mấy cô đầu ở Hải Phòng.
27
Bật cần nêu đem mới lại cho mau, già, trẻ, gái, giai đều sướng kiếp;
Đùng tiếng trúc đuổi cũ đi đã đáng, cỏ, hoa, non, nước cũng mừng Xuân.
(Phạm Thái)
 
trúc:  nêu pháo
đuổi cũ đi đã đáng:  tống cựu
mới lại cho mau:  nghênh tân
già, trẻ, gái, giai đều sướng kiếp:  mọi hạng người đều vui Tết
cỏ, hoa, non, nước cũng mừng Xuân:  cả vạn vật lấy Tết làm vui

28
Tết tung túng tắng tiền tiêu Tết;
Xuân siếc sênh sang sắm sửa Xuân.
(Nguyễn Bính)

Câu đối Tết của Nguyễn Bính tả cảnh nghèo vui Xuân đăng trên báo Phong Hoá Tết 1934.
29
Lá phưn phất phơ ngang trời, bốn bể đều trông nêu Phật;
Tiếng chuông kêu dậy đất, mười phương cùng tưởng pháo sư.

Câu đối này làm bởi một nhà sư giỏi văn chương và có chí tang bồng (ngang trời, bốn bể)...
lá phướn: Tết đến, ở chùa nhà sư cũng trồng cây nêu và trên cây nêu có lá phướn.
pháo sư: Tiếng pháo của nhà sư là tiếng chuông chùa inh ỏi vang lừng đến mười phương.

30
Ngoài cửa mừng Xuân nghênh Ngũ Phúc;
Trong nhà chúc Tết hưởng Tam Ða

Ngũ phúc:  Xem Ngũ phúc lâm môn
Tam Đa:  Phước, Lộc, Thọ (Three Abundances or Three Plenties).


Câu đối Hán Việt

 
31 Đa lộc, đa tài, đa phú quý;
Đắc thời, đắc lợi, đắc nhân tâm.

Nhiều lộc, nhiều tài, nhiều của cải;
Gặp thời, được lợi, được lòng người.

32
Ðịa sinh tài, thế nghiệp quang huy;
Thiên tứ phúc, gia thanh hiện thái.

Ðất sinh tài nghiệp đời sán lạn;
Trời ban phúc, nhà tiếng tốt tươi.

33
Liên tọa đài tiền hoa hữu thực;
Bồ đề thụ thượng qủa thanh nhàn.

Tòa sen đài trước hoa đầy đủ;
Cổ thụ bồ đề quả thanh nhàn.
34
Môn đa khách đáo thiên tài đáo;
Gia hữu nhân lai vạn vật lai.
Cửa nhiều khách đến, nhiều tiền đến;
Nhà có người vào, lắm vật vào.

35
Nhập môn tân thị kinh luân khách;
Mãn tọa dai đồng cẩm tú nhân.

Vào cửa toàn khách kinh luân;
Ngồi chơi toàn người cẩm tú.
36
Niệm tiên tổ, duật tu quyết đức;
Khải hậu nhân,trường phát kỳ tường.
Nhớ tổ tiên, đẹp điều nhân đức;
Tin cháu con bền sự lạ hay.

37
Niên hữu tứ thời, xuân vi thủ;
Nhân sinh bách hạnh, hiếu vi tiên.

Một năm có bốn mùa, mùa Xuân là khởi đầu;
Người ta có trăm tính, hiếu thảo thì trước tiên.
38
Niên niên như ý xuân;
Tuế tuế bình an nhật.

Năm năm xuân như ý;
Tuổi tuổi ngày bình an.

39
Phúc mãn đường, niên tăng phú quý;
Ðức lưu quang, nhật tiến vinh hoa.

Phúc đầy nhà, năm thêm giàu có;
Ðức ngập tràn, ngày một vinh hoa.
40
Phúc sinh lễ nghĩa gia đường thịnh;
Lộc tiến vinh hoa phú qúy xuân.

Phúc đem lễ nghĩa trong nhà thịnh;
Lộc nảy vinh hoa phú quý xuân.
41
Phúc thâm tự hải;
Lộc cao như sơn.

Hạnh phúc nhiều sâu như biển;
Của cải nhiều cao như núi.
42
Sơn thủy thanh cao xuân bất tận;
Thần tiên lạc thú cảnh trường sinh.

Phong cảnh thanh cao xuân mãi mãi;
Thần tiên vui thú cảnh đời đời.
43
Tân niên hạnh phúc bình an tiến;
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai.

Năm mới hạnh phúc bình an đến;
Ngày Xuân vinh hoa phú quý về.
44
Thảo ốc an cư, tích kim quang đắc đức;
Bố y tùy phận, cầu phúc đức lai tài.

Nhà cỏ ở yên, tích kim quang được đức;
Áo vải an thân, cầu phúc đức đến tài.
45
Thiên địa vô tư, tích thiện tự nhiên thiện;
Thánh hiền hữu giáo, tu thân khả dĩ vinh.

Trời đất vô tư, làm điều thiện tự nhiên được thiện;
Thánh hiền có dạy, lo tu thân có thể được vinh.
46
Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ;
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.

Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ;
Xuân khắp vũ trụ, phúc khắp nhà.
47
Thọ tự Nam Sơn;
Phúc như Đông hải.

Sống thọ tợ núi Nam;
Phước đức như biển Đông.
48
Tiên tổ phương danh lưu quốc sử;
Tử tôn tích học hiển gia phong.

Tiên tổ danh thơm ghi sử nước;
Cháu con tích học nổi cơ nhà.
49
Tổ tôn công đức thiên niên thịnh;
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương.

Công đức tổ tôn nghìn năm thịnh;
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay.
50
Trúc bảo bình an, tài lợi tiến;
Mai khai phú qúy, lộc quyền lai.

Trúc giữ bình yên, thêm tài lợi;
Mai khai phú qúy, lại lộc quyền.
51
Xuân như cẩm tú, nhân như ngọc;
Khách mãn gia đình, tửu mãn tôn.

Xuân như cẩm tú, người như ngọc;
Khách chật trong nhà, rượu hết chung.