Năm tháng Mossard


Năm tháng Mossard

Hồi ký

Trần Anh Dũng, 
một cựu học sinh La San Mossard





Viết từ trái tim

      Tôi vốn thích đọc những tập hồi ký vì chúng kể về những quãng đường đã đi qua mà đến một giai đoạn trưởng thành, già dặn nào đó trong cuộc đời, tác giả đã ghi chép để nhìn lại mà suy ngẫm và qua đó người đọc rút tỉa ra được những kinh nghiệm quí giá trong cuộc sống, những giá trị trường cửu ở đời ... “Ôn cố tri tân” là đặc tính của những tập hồi ký.

       Tôi có cơ duyên đọc tập hồi ký “Năm tháng Mossard” của anh Trần Anh Dũng, một cựu học sinh Mossard. Đọc đi đọc lại mấy lần mà tôi vẫn còn thấy hay. Hay vì lẽ nó có một phần mang máng, hơi giống như những kỷ niệm đời nội trú, tâm tình mà chính mình đã trải qua, nhưng tôi không thể nhớ và viết lại một cách chi tiết, mạch lạc và lôi cuốn như vậy. Hơn nữa, tôi đọc thấy hay vì cốt truyện đã nói lên được tấm chân tình Thầy trò, bè bạn, ơn nghĩa trước sau của người học trò cũ và những giá trị giáo dục, tình thương tại ngôi trường La San này.

       Những tháng năm ở Mossard, thời tuổi trẻ vô tư, êm đềm hạnh phúc của chúng tôi đã qua đi và sẽ không bao giờ tìm lại được, nhưng những kỷ niệm, những bài học tại mái trường thân yêu này vẫn còn mãi mãi trong tim. May thay, anh Trần Anh Dũng đã bỏ công sức và moi trí nhớ, trái tim mình ra để ghi lại tập hồi ký đầy ý vị này để nhắc nhở về những hình ảnh xưa cũ, ký ức đẹp nhứt trong đời người của mỗi Mossarien tại ngôi trường xưa ...

       Có thừa chăng, nếu tôi nói rằng tác giả đã viết từ chính trái tim của anh?

       Tôi đã có những giây phút thanh nhàn thích thú, thả hồn về dĩ vãng khi đọc những dòng hồi ký “Năm tháng Mossard” và xin được hân hạnh giới thiệu cùng bạn đọc khắp nơi ...

Lý Hữu Phước
Một cựu Mossarien
Sydney, đầu Xuân Quý Tỵ 2013.

 

Cơ duyên Mossard
 
      Năm tôi lên mười tuổi, ba má tôi gởi tôi học trường nội trú Mossard, ở quận Thủ Đức, cách Sài gòn mười mấy cây số ngàn.
      Có lẽ vì ba tôi là thầy giáo nên - theo sự suy nghĩ non nớt của tôi lúc đó - ông cho tôi đi học rất sớm. Mỗi ngày ông đi dạy học bằng xe mobylette, chở hai anh em tôi đi học luôn. Học xong lớp nhứt mới có chín tuổi nên tôi phải ở lại lớp. Năm sau, tôi cũng chưa đủ tuổi để thi vào lớp đệ thất nhưng tôi rất cứng đầu, nhất định không chịu ở lại lớp nhứt thêm một năm nữa. Cô sáu của tôi thấy thương, khuyên ba tôi cho tôi chuyển qua chương trình Pháp.
      Hai niên học trước, Tuấn, người anh thứ năm của tôi, không đậu concours (thi tuyển) vào Mossard nhưng đậu vào đệ thất trường Trung học Tây ninh. Do đó tôi nghĩ anh tôi thi rớt không phải vì học dở mà vì anh không được kèm Pháp văn cho khá trước khi đi thi. Tôi may mắn hơn anh vì trước khi đi thi tôi được một người chị bà con tận tình dạy kèm tôi ngoại ngữ ấy. Đó là chị Paulette, con của cô sáu tôi, vừa du học ở Pháp thành tài về xứ.
      Hôm tôi đi thi, anh Tôn, người anh thứ tư của tôi, cũng từng là dân Mossard, đưa tôi lên Thủ đức bằng xe đò. Anh tư năm ấy học ở trường Taberd. Vì đông con và nhà ở xa nên ba má tôi chưa bao giờ dẫn tôi đến trường thăm anh tư khi anh ở nội trú. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi đến Mossard.
      Đến chợ Thủ đức chúng tôi cuốc bộ đến trường thay vì đi xe lam. Vừa qua khỏi trường Quân nhạc bên tay phải, đường  dốc thoai thoải, không cao lắm. Đi qua khỏi nhà thờ Thủ đức bên tay trái anh tư chỉ cho tôi thấy ngôi trường Mossard nằm kế bên, trên một mảnh đất mà theo ý tôi  là một ngọn đồi, ẩn mình trong đám cây cối cao nghều nghệu. Cổng trường trang nghiêm, cửa sắt, con đường vào trường lót đá xanh, từng cục lớn hơn viên gạch xây tường. Từ ngoài nhìn vào, trên cột tay phải cổng trường có bản cẩm thạch màu trắng đề tên “Ecole Mossard”. Bước vào trong, tôi thấy có hai dãy nhà lầu ba tầng, sơn màu vàng lợt. Vì còn sớm nên anh tư dẫn tôi vào préau (sân chơi có mái che) ngồi đợi. Một lát sau, tôi thấy có một ông cha đi bộ từ một ngôi nhà lầu đằng xa đến. Anh tôi vội vàng dắt tôi đến chào và giới thiệu tôi với ông cha này nhưng anh không gọi là cha mà là frère (sư huynh). Khi ấy tôi chỉ biết gật đầu chào một ông cha đầu sói, có một gương mặt phúc hậu trong chiếc áo dòng màu đen, vậy thôi. Ông cha đi rồi, anh tư mới nói cho tôi biết đó là một ông thầy dòng chớ không phải là ông cha. Ông thầy tên Sébastien, làm bề trên Đệ Tử viện ở ngôi nhà lầu đó.
      Năm ấy, tôi may mắn thi đậu vào lớp 7è Spéciale (lớp 7 đặc biệt). Tôi không nhớ thầy nào canh lớp trong lúc chúng tôi thi écrit (thi viết) nhưng tâm trí tôi còn ghi rất rõ cảnh thi oral (thi hạch miệng). Ông thầy dòng hỏi tôi những câu bằng tiếng Pháp khó nghe làm tôi lúng túng. Thấy vậy, thầy cười thật hiền, biểu tôi hãy bình tỉnh, bằng tiếng Việt, giọng người miền Bắc. Nhờ nụ cười ấy mà tôi trả lời suôn sẻ các câu hỏi của thầy. Tháng sau vào nội trú tôi mới biết ông thầy dòng này là frère Jules, làm Préfet (giám học), một thầy hét ra lửa với bọn học sinh chúng tôi.


Câu kinh đầu đời

      Tựu trường năm ấy, năm 1960, lần đầu tiên tôi sống đời học sinh nội trú xa nhà.
      Sáng hôm lên trường, tôi khoanh tay thưa ông nội để đi học. Nội vò đầu tôi, biểu tôi ráng học cho giỏi, và nội cho tôi một trăm đồng để ăn bánh. Thiệt là le! Mà tôi có cần phải ăn xài gì trong trường nội trú, hai chục đồng ba má cho là quá đủ. Sau đó, mỗi tháng ông nội cho tôi một trăm. Tôi để dành nhờ anh Kiệt, người anh thứ ba của tôi, mua cho tôi một cái đồng hồ đeo tay hiệu Cytas giá 600 đồng. Đó là cái đồng hồ đeo tay đầu đời của tôi.
      Tôi vào lớp 7è Spéciale dành riêng cho các học sinh chuyển từ lớp nhứt chương trình Việt sang chương trình Pháp. Trường Mossard có ba dortoir (nhà ngủ) dành cho học sinh. Dortoir nhỏ, gọi là petit dortoir, cho học sinh các lớp 11è, 10è và 9è; dortoir trung bình cho các lớp 8è, 7è, 7è Spéciale và 6è Préparatoire; từ 6è trở lên học sinh  ngủ ở dortoir lớn. Tôi thuộc lứa trung bình nhưng dượng mười của tôi xin cho tôi đổi sang petit dortoir để được cái giường kế bên Tâm, con của cô dượng, cho có anh em bên cạnh nhau.
      Tuần lễ đầu tôi rất bỡ ngỡ, gặp toàn là bạn mới. Trong trường chỉ có thầy chứ không có một cô giáo nào. Thầy đây là thầy dòng, ngoại trừ vài thầy giáo mặc thường phục, ai cũng mặc áo dòng đen, trên cổ mang cái rabat màu trắng, giống như cái cà-vạt nhưng ngắn ngủn, vuông vức, hình như làm bằng plastic. Khi ấy, tôi thấy thầy nào cũng như thầy nấy, khó biết ai là ai ngoài thầy dạy học của mình.
      Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây. Trường Mossard những năm tôi học không có một bóng dáng phụ nữ nào. Ngoài các thầy, thầy dòng hay thầy giáo, nhân viên văn phòng, quét dọn, sửa chữa, nhà bếp ... toàn là đàn ông. Có chăng là ở dãy phố nằm dưới đồi, kế bên piscine, nơi cư ngụ của vài gia đình nhân viên nhà trường. Khu cư xá này có đôi bóng hồng tôi xin dành kể lại vào một chương khác của tập hồi ký này.
      Vì lúc mới vào trường tôi không phân biệt được các thầy trong chiếc áo dòng đen nên tôi mới có cơ duyên gặp một vị  đã ảnh hưởng sâu đậm đến tôi sau này.
      Hôm tựu trường, buổi chiều ra chơi tôi gặp một ông thầy dòng đầu sói với một gương mặt phúc hậu. Tôi cúi đầu chào vì hình như đây là ông thầy anh tôi đã giới thiệu hôm đi thi. Hôm sau, gặp thầy này tôi cũng cúi đầu chào. Khi tôi chào lần thứ ba, thầy bước đến bên tôi và hỏi:
      “Sao lần nào gặp frère con cũng chào vậy?”
      Tôi ấp úng nói:
      “Dạ, con nhớ có gặp frère hôm hè đi thi, anh con dẫn con đến chào frère.”
      Nghe đến đó, thầy ngạc nhiên nói:
      “Chắc con lộn frère với frère nào rồi vì frère chưa có gặp con lần nào.”
      “Dạ, a ... a ... vậy ... chắc là con nhìn lộn frère với frère ‘Sê Chen’ rồi.”
      Ông thầy dòng cười ngất, rất vui vẻ, hiền hậu:
      “À ... chắc là hôm ấy con gặp frère Bề trên Sébastien bên Đệ Tử viện. Còn frère là frère Sa ... lo ... mon. Sébastien đọc là Sé ... bas ... tien chớ không phải Sê Chen đâu nghen con.”
      Tuần lễ sau, tôi gặp thầy Salomon hàng ngày vì đến phiên thầy làm surveillant (giám thị) nhà ngủ nhỏ.
      Học trường đạo Thiên Chúa, khi vào lớp chúng tôi đọc kinh. Học xong cũng đọc kinh. Trước và sau khi ăn đọc kinh. Đến giờ đi ngủ sắp hàng trước hang đá Đức Mẹ đọc kinh. Ngủ dậy, mắt nhắm mắt mở, lại đọc kinh. Trong khi đó, gia đình ba má tôi đạo thờ ông bà, thỉnh thoảng tôi  thấy má tôi đi chùa lạy Phật. Ở nhà, mỗi lần cúng giỗ, ba tôi biểu anh em chúng tôi xá trước bàn thờ Ông Bà. Cạnh nhà ông nội tôi có một cái am do ông cố chú của tôi làm chủ lúc sanh tiền. Anh năm của tôi có nhiệm vụ sang bên am đốt nhang mỗi buổi tối, thỉnh thoảng tôi thay thế anh năm đi đốt nhang.
      Tôi chưa hề biết, chưa hề đọc một câu kinh nào.


Với ba tôi (1958), một năm trước khi vào Mossard (nk 1959-1960)

      Trước khi tôi thi vào trường Mossard, chị Paulette dạy tôi Pháp văn chớ chị không có dạy tôi đọc kinh Thiên Chúa bằng tiếng Pháp. Anh tư cũng không có dạy tôi câu kinh nào và anh cũng không căn dặn tôi điều gì khi ở nội trú. Hôm nay nhớ lại tôi khâm phục và cám ơn anh. Tôi nghĩ rằng anh muốn tôi tự khám phá, học hỏi những điều mới lạ và tự bươn chải lo lấy thân trong những năm đi học xa nhà ấy. Những kinh nghiệm sống với thầy, với bạn trong những năm tháng Mossard với lòng chân tình, đức bác ái và ý chí sinh tồn đã giúp tôi rất nhiều sau khi tôi trưởng thành, chạm trán với đời. Thói quen tự lập hữu ích này có vài lần giúp tôi thoát chết trong thời chiến tranh.
      Mấy ngày đầu ở trường nội trú, tôi bắt chước các bạn làm dấu Thánh Giá rồi đọc kinh theo tụi nó, câu kinh bằng tiếng Pháp tôi không hiểu gì cả nhưng cứ nhắm mắt nháy theo mà đọc, không chút mắc cỡ. Một buổi tối, tôi đứng gần thầy Salomon đọc kinh cùng chúng bạn trước khi đi ngủ, tôi để ý thấy thầy nhìn tôi rồi mỉm cười nhưng tâm hồn vô tư tôi không thắc mắc tại sao thầy cười mình. Sáng hôm sau, thầy đưa cho tôi một tờ giấy chép tay ba kinh Lạy Cha, Kính Mừng và Sáng Danh bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, biểu tôi học thuộc lòng và đọc cho trúng, có thắc mắc gì thì hỏi thầy.
      Đó là những câu kinh đầu đời của tôi.
      Đó là những câu kinh tôi vẫn còn nhớ rành rành khi rời mái trường Mossard và trong những năm tháng nhiểu nhương. Đó cũng là những câu kinh tôi đọc khi gặp những khổ tâm, lo sợ, khi ở giữa sự sống và cái chết. Và đó cũng là những câu kinh tôi đọc khi “gặp lại” Chúa và trở thành con của Chúa, và lúc ấy tôi nhớ đến thầy Salomon của tôi thật nhiều.


Nỗi nhớ nhà

      Lớp 7è Spéciale là một lớp khá đông học sinh, khoảng 40 đứa pensionnaires (nội trú), demi-pensionnaires (bán trú) và externes (ngoại trú) học chung với các bạn novices (đệ tử đi tu) bên Đệ Tử viện. Mỗi ngày chúng tôi lội bộ hai lần từ trường đến Đệ Tử viện trên con đường lót đá đỏ dài khoảng 100 mét, bên trái là vườn cây dầu, bên phải là sân chơi bóng chuyền, bóng rổ.
      Tôi học xong tuần đầu, trưa thứ bảy dượng mười tôi đến rước hai người con của dượng là Cảnh (học trên tôi hai lớp), Tâm (học lớp 10è, cũng mới vào nội trú như tôi) và tôi về Gò công chơi bằng chiếc Peugeot 202 của cô dượng. Thứ bảy kế tiếp tôi ở lại trường. Thứ bảy sau đó, cô dượng sáu lái xe nhà, chiếc traction Citroën, đến đón tôi về Sài gòn. Ngồi trên xe cô sáu hỏi có nhớ ba má và mấy em ở Tây ninh không, tôi mủi lòng khóc lớn. Dượng sáu cười, nói tôi ráng học, tháng sau cô dượng sẽ đón tôi về Tây ninh chơi.
      Thật ra, trong tuần lễ xa nhà đầu tiên tôi chỉ nhớ ông bà, cha mẹ, anh em một chút mà thôi. Mỗi ngày đi học về tôi chơi đá banh thỏa thích với bạn, sân ngay phía sau trường. Ở Tây ninh, thỉnh thoảng anh em chúng tôi mới được ba má cho phép lên sân banh cách nhà cả cây số, mượn banh của Ty Thanh niên chơi không đã. Mossard lại có piscine (hồ bơi) nữa, cách ngày chúng tôi được “tắm” một lần thay vì tắm douche (vòi nước bông sen). Trưa thứ năm hay thứ bảy nghỉ học thỉnh thoảng chúng tôi được bơi lội mấy tiếng đồng hồ. Ở Tây ninh, anh em chúng tôi muốn tập bơi phải trốn ba má đi “tắm” ở mé rạch sau nhà hay ở Ao Hồ cách nhà mấy cây số. Đôi ba lần ba tôi hay được, phạt đòn nên anh em chúng tôi không dám trốn nhà đi bơi nữa. Nay tôi được tha hồ bơi lội, vui thích quá thì làm sao tôi nhớ nhà!
      Nhưng rồi nỗi nhớ nhà cũng đến với tôi sau một “biến cố” xảy ra vào cuối tuần lễ thứ nhì tôi sống đời nội trú. Vì không biết bơi nên khi tắm piscine tôi chỉ tập ở chỗ cạn mà thôi. Trưa thứ bảy ấy, tôi quyết định thử tài bơi lội của mình ở chỗ sâu. Tôi cẩn thận hỏi mấy tên cùng lứa với tôi đang bơi nơi đó. Nghe chúng nó nói chỉ sâu tới vai thôi nên tôi nhảy đại xuống nước. Vừa bị hụt chân vừa bị một tên nào đó kéo giò, tôi tưởng mình chết đuối hôm ấy. Chúng nó đợi cho tôi uống nước piscine đã thèm mới kéo tôi lên. Đây chỉ là một trò đùa trẻ nít, ma cũ ăn hiếp ma mới. Sự thật tôi sợ muốn khóc nhưng tôi cố nín vì tôi hận nhiều hơn sợ. Tôi không méc với thầy surveillant hôm ấy vì tôi biết nếu tôi méc tụi nó sẽ chọc quê tôi “mít ướt” như con gái. Tôi hận nhưng không làm gì được mấy tên đó nên tôi tủi thân. Đêm hôm ấy, tôi trùm mền khóc rấm rứt một mình trên giường ngủ. Khi ấy, tôi mới cảm thấy nỗi bơ vơ, không cha, không mẹ, không anh em bên cạnh. Khi ấy, tôi mới thấm thía cái nỗi nhớ nhà, mới biết nó thê lương như thế nào.
      Tuy nhiên, nỗi buồn, mối hận đó qua đi rất mau. Thật đúng là cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”! Tôi bận học, bận chơi, không đủ thời giờ để buồn. Tôi mau chóng làm bạn với cái đám cho tôi uống nước piscine hôm ấy. Không đầy ba năm sau chúng tôi là một đám phá thầy, phá bạn, có thể nói nhất nhì ở Mossard.


L’air est un gaz
 
      Mặc dầu thi đậu vào trường nhưng trong năm đầu ở Mossard tôi học hành rất vất vả. Thầy Nivard làm titulaire (thầy hướng dẫn) lớp chúng tôi. Thầy dạy Français (Pháp văn) và hầu hết các môn học khác. Thầy rất tận tâm với những đứa chuyển trường còn kém Pháp văn như tôi. Thầy Frédéric dạy Arithmétique (Toán số). Thầy là một họa sĩ có tài. Vào lễ Thánh Gioan La San thầy vẽ một tấm hình thật lớn, thật đẹp làm phong cho bàn thờ Chúa.
      Tôi cố gắng hết sức mình nhưng mỗi thứ bảy cuối tháng thầy Bernard, Bề trên Hiệu trưởng người Pháp, đến lớp đọc danh sách xếp hạng; tôi luôn lẹt đẹt từ hạng 30 trở xuống. Khó khăn chánh của tôi là Pháp ngữ. Tôi nhớ bài học đầu tiên về Sciences Naturelles (Vạn vật), “L’air est un gaz” (không khí là một thể hơi) chỉ có mấy câu mà tôi đọc đi đọc lại nhiều lần mới thuộc. Một trở ngại khác của tôi là mất tin tưởng về mình và có mặc cảm thấp kém trước bạn bè học giỏi.
      Sau niên học đầu tiên ở Mossard, tôi về Tây Ninh nghỉ hè ba tháng. Ba tôi dẫn tôi lên nhà bác ba của tôi để học thêm Pháp văn. Bác tôi làm hiệu trưởng trường Tiểu học tỉnh lỵ. Khi ấy, bác đã về hưu nên bác mở vài lớp dạy kèm Pháp văn. Tôi không nhớ bác xếp tôi vào lớp nào, hình như là đệ lục, nhưng trong buổi học đầu tiên tôi học trội hơn các bạn. Ban đầu tôi đưa tay trả lời các câu hỏi bài của bác mà tôi thấy quá dễ, sau đó tôi chờ không ai trả lời nổi tôi mới đưa tay lên. Xong buổi học, bác ba biểu tôi chờ bác viết cho ba tôi vài chữ để tôi mang về. Khi đọc xong lá thơ ba tôi mỉm cười nói bác cho tôi lên lớp trên chớ ba không nói gì thêm làm tôi sanh ra tò mò. Hôm sau, lúc ba ngủ trưa tôi lén mở thơ bác ra đọc, mới biết bác hết lời khen tôi rất khá môn Pháp văn. Từ đó, tôi chẳng những lên tinh thần mà lại có chút tự kiêu về khả năng Pháp ngữ của mình nữa.
      Tôi lại xin mở một dấu ngoặc ở đây để tâm tình đôi chút về chuyện ngợi khen con cái. Thế hệ ba má và cô bác của tôi hình như không bao giờ khen con cái, sợ chúng kiêu ngạo. Tôi nhớ rất rõ, ba tôi chỉ mỉm cười chớ không có khen tôi. Còn bác ba, tại sao bác không khen tôi lấy một câu mà gởi thơ cho ba tôi để khen? Bác có biết đâu nhờ lời khen tôi lén đọc của bác mà tôi vững tâm, lấy lại lòng tin và học hành khá hơn những năm kế tiếp. Khi đã trưởng thành, nên nghề nghiệp, nên gia đình, nhờ có kinh nghiệm này tôi thường hay khen học trò và con cái khi chúng biết lễ phép, học giỏi, có những sáng kiến mới lạ, biết thương người, thương thú vật ...


Lương sư như từ mẫu

      Một ngày vào mùa Đông năm đầu tiên học ở Mossard tôi bị cảm. Sáng sớm hôm ấy tôi lên sốt, không đến lớp được. Thầy surveillant tuần lễ ấy bảo tôi phải đi infirmerie (bệnh xá) xin thuốc uống.
      Hồi còn ở nhà mỗi lần bệnh tôi có cha mẹ lo cho uống thuốc, đo thân nhiệt với ống thủy, nấu cháo cho ăn. Lần bị cảm mạo này tôi chỉ có một mình nhưng tôi chưa thấy tủi thân vì quá mệt, nằm vùi trên giường ngủ, không biết trời trăng gì hết. Tôi thiếp đi không biết bao lâu chợt có ai lay nhẹ vai, đánh thức tôi dậy. Mở mắt tôi mới hay mặt trời đã lên, nhà ngủ vắng hoe và thầy Salomon đang đỡ tôi ngồi dậy. Thầy đưa cho tôi vài viên thuốc và một ly nước, biểu tôi uống cho hết bệnh. Vừa nhấp một hớp nước tôi cảm thấy miệng mình đắng và nước thì lạnh. Khi ấy tôi nhớ má tôi luôn cho tôi uống thuốc với nước trà nóng nên tôi đưa ly nước lại cho thầy Salomon và tự nhiên nói, “Ở nhà má con cho uống thuốc với nước trà nóng!” Tôi còn nhớ gương mặt thầy Salomon lúc ấy có thoáng ngạc nhiên, rồi thầy mỉm cười nói, “Con chờ frère một chút.”  Tôi nằm xuống giường, nhìn thầy Salomon lui cui nấu nước nóng cho tôi bằng lò điện, loại có ruột gà cắm vào điện rồi nhúng vào nồi, tôi bỗng thấy nhớ má tôi quá đổi. Dầu vậy, tôi chỉ có một chút tủi thân thôi vì tôi cảm thấy mình có thầy Salomon thương tôi không khác gì cha mẹ. Sau khi cho tôi uống thuốc bằng nước trà nóng, thầy Salomon biểu tôi vạch áo để thầy đặt thủy vào nách. Tôi lại tự nhiên nói, “Má con đặt thủy ở đít mà frère!” Thầy bật cười lớn tiếng và nói, “Đặt thủy ở nách được rồi. Con lớn rồi, đâu còn là con nít nữa!”
      Lần đó tôi bệnh hai ngày mới khỏi. Trong hai ngày ấy thầy Salomon lo thuốc men cho tôi, sáng thầy cho tôi uống sữa, trưa chiều thầy mang cơm cháo đến giường cho tôi ăn như thầy là má của tôi vậy. Người ta thường nói, “Lương y như từ mẫu.” nhưng theo tôi thầy Salomon quả là “Lương sư như từ mẫu.”


Ăn chay trong lòng

       Xong lớp 7è Spéciale, năm sau tôi lên lớp 6è Préparatoire (lớp 6 dự bị) do thầy Eugène làm titulaire. Chương trình học vẫn đặt nặng Français và Arithmétique. Thầy Eugène dạy Français, thầy Triêm dạy Arithmétique. Như mọi lớp ở Mossard, mỗi sáng chúng tôi có nửa giờ học Giáo lý.
      Năm ấy, vào lớp mới, tôi nhận thấy thầy Eugène có một lối dạy học mới lạ tôi chưa từng biết. Mười mấy năm sau, tôi có cơ duyên làm thầy giáo trong khi chưa qua một khóa sư phạm nào. Tôi đã áp dụng cách của thầy, vậy mà khá hữu hiệu. Phương pháp đó là đầu tháng thầy cho một bài thi, rồi căn cứ vào điểm thi thầy sắp hạng chỗ ngồi cho học sinh trong lớp của thầy. Học sinh nhiều điểm nhất ngồi ghế số một. Trong lớp, thầy đặt câu hỏi cho bất cứ học sinh nào. Nếu trò nào trả lời sai, thầy hỏi trò kế tiếp. Trò nào trả lời đúng được quyền lấy ghế của trò trả lời sai. Cuối tháng thầy tính điểm theo thứ tự chỗ ngồi của học sinh. Nhờ vậy mà học sinh phải luôn chăm chú theo dõi bài giảng của thầy trong lớp. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy cách này hơi “ác” với học sinh. Suốt một giờ đồng hồ phải tranh đua, cận lực, để trọn tâm trí vào việc học hành thì còn gì là tuổi thơ!
      Mùa chay năm ấy tôi có một kỷ niệm khá lý thú với thầy Eugène. Trong giờ Giáo lý thầy giảng về việc ăn chay và biểu chúng tôi viết cảm tưởng của mình về việc này.
      Mùa chay năm trước thầy Nivard đã có giảng về sự ăn chay và dạy cho chúng tôi một danh từ mới là jeûne (chay lạt) cùng với cách phát âm từ ngữ ấy. Kỳ nghỉ hè vừa qua tôi đi học thêm Pháp văn với bác của tôi như đã nói ở đoạn trên. Khi giảng bài bác tôi có thói quen hay dùng một từ ngữ mới để giảng rộng ra, như tỉnh từ, trạng từ của nó, chữ đồng nghĩa, phản nghĩa ... là gì. Một hôm bác giảng về tỉnh từ jeune (trẻ trung) và hỏi trong lớp có trò nào biết một danh từ viết giống như chữ jeune, nhưng có dấu mũ trên mẫu tự u và nó có nghĩa là gì. Lẽ dĩ nhiên trong lớp chỉ có một mình tôi biết danh từ này. Bác tôi cũng có tánh hay đùa cợt chuyện tu hành nên bác dạy thêm rằng ăn chay mà nấu các món ăn có hình thù như con tôm, con cá, con gà, con vịt là không phải ăn chay. Bác nói,  ăn chay mình phải biết ăn chay trong lòng, Tây nó gọi là “Le jeûne de l’âme.”
      Hôm ấy làm bài Giáo lý tôi nhớ lại câu chuyện ăn chay bác tôi đã kể nên viết ra y chang như vậy và nộp bài cho thầy Eugène. Giờ Giáo lý hôm sau, thầy biểu tôi đứng lên giải thích cho cả lớp biết ăn chay trong lòng nghĩa là gì. Lẽ tất nhiên tôi chỉ biết nói trong lúc ăn chay ta không được tơ tưởng đến thịt heo, thịt bò. Thầy Eugène dùng câu trả lời của tôi giảng nghĩa thêm rằng ăn chay trong lòng còn có nghĩa là chúng ta không nghĩ xấu, không có những hành động, lời nói xấu. Hôm nay kể lại kỷ niệm xưa này tôi không hiểu thầy Eugène nghĩ gì về đứa học trò của thầy, mới có 11 tuổi đã biết nói đến chuyện ăn chay trong lòng!
      Tôi nghe nói sau 1975 thầy Eugène vượt biên thành công và thầy tình nguyện phục vụ giáo dục tại một xứ Phi châu xa xôi, nghèo đói nào đó. Hiện nay chắc thầy đã về hưu. Ôi, cao quí thay một đời tận hiến!


Les bons points

      Hai năm đầu tôi lên Secondaire (trung học), thầy François làm titulaire cho lớp chúng tôi, 6è và 5è, hai năm liên tiếp và thầy dạy các môn Français, Histoire (Sử ký) và Géographie (Địa lý). Thầy Vincent dạy Mathématiques (Toán học). Thầy Thỏa dạy Việt Văn và Việt Sử. Các thầy khác thiệt tình vì quá lâu nên tôi không nhớ tên, ngoài thầy Trần Nghĩa Hiệp dạy Anglais (Anh văn) khoảng nửa năm. Trong lớp tôi gọi bằng thầy chứ ở ngoài một hai thầy cũng gọi tôi bằng anh vì ba thầy là chú của tôi. Thầy Hiệp cũng là một cựu Mossarien.
      Thầy François phụ trách luôn môn thể thao cho nhà trường nên thầy được nhiều học sinh yêu thích, đặt cho biệt danh là papa (ba), mặc dù thầy khó một cây. Thầy có vài cây roi mây, loại thân nhỏ, đánh đòn rất đau. Trong suốt sáu năm học Mossard tôi không bao giờ thấy thầy bạt tai một học sinh nào. Trò nào có lỗi thầy bắt nằm sấp, quất roi mây vào mông. Tôi thuộc loại học sinh nhát đòn nên không dám làm điều gì sai quấy để bị đòn, ngoại trừ hai lần tôi suýt ăn cây roi mây của thầy François.
      Một lần tôi hùa theo mấy đứa bạn phá phách trong giờ tập thánh ca vào chiều thứ năm. Hôm ấy thầy François dạy chúng tôi một bài hát về Đức Mẹ có tựa là “Kìa Bà Nào”. Khi ca đến câu “Bà là ai?” chúng tôi ba đứa ngồi gần ca bè tiếp thêm câu “Bà già tôi ...” làm cả lớp cười rần lên. Lần thứ nhất, thầy không rầy mà chỉ bắt chúng tôi ca lại. Lần thứ nhì, thầy bắt ba đứa ra đứng piquet (hình phạt đứng một chỗ). Cuối giờ thầy mang cây roi mây ra. Thật tình mà nói, lúc ấy tôi không có chút sợ hãi mà còn thấy “hãnh diện” được ăn roi mây nữa chứ. Không hiểu sao, thầy François lắc đầu, biểu chúng tôi về chỗ ngồi. Không ngờ thầy tôi tinh đời như thế.
      Lần khác tôi suýt ăn roi mây của thầy François xảy ra vào lúc tắm douche. Trong trường nội trú chúng tôi tắm tập thể (lẽ dĩ nhiên có mặc quần xì-líp, xà-lỏn) mỗi lần một tốp học sinh khoảng 30 đứa. Sau khi mỗi đứa đứng vào vị trí dưới vòi bông sen, thầy surveillant mở nước. Vài phút sau thầy đóng nước để chúng tôi chà xà-bông. Sau đó thầy mở nước để chúng tôi tắm xả xà-bông vài phút. Khi thầy thổi tu-huýt chúng tôi phải ra khỏi phòng tắm để tốp học sinh khác vào tắm. Lần ấy, tôi chơi đá banh té vào vũng bùn nên người ngợm khá dơ. Thầy François thổi tu-huýt rồi mà tôi vẫn ăn gian tiếp tục tắm. Khi tôi bước ra khỏi phòng tắm, thầy điểm mặt tôi.


Lớp 5è, 1964, với thầy François

      Tắm xong chúng tôi vào lớp học giờ étude (giờ học bài). Một lát sau, thầy François mang roi mây đến kêu tôi ra ngoài couloir (hành lang). Thầy hỏi tôi tại sao tôi cố tình làm sai quy củ nhà tắm, tôi ráng làm mặt lì, thản nhiên trả lời, “Oui mais ... mais ... Propreté d’abord, cher frère.” (Vâng, nhưng ... thưa thầy, trước tiên ta phải giữ sạch sẽ.) Chắc điệu bộ của tôi lúc ấy trông buồn cười lắm. Thầy lại lắc đầu biểu tôi trở vào lớp. Thật là may!
      Thầy François có mấy cây roi mây để đưa chúng tôi vào khuôn phép nhưng thầy không dùng lối dạy nhằm buộc học sinh phải chăm chú trong lớp như thầy Eugène. Thầy dùng bon point (điểm tốt) để “dụ” chúng tôi ngoan ngoãn học hành. Đó là những phiếu in sẵn trị giá 1,2, 5, 10 ... bon point như tiền ngoài đời. Khi ra  câu hỏi, tùy khó hay dễ, thầy giao hẹn trò nào trả lời đúng thì sẽ được một số bon point; nếu trả lời sai thì bị truất bon point. Vào dịp lễ Giáng Sinh và cuối năm thầy mang quà thưởng đến lớp cho chúng tôi mua đấu giá, thật là vui. Những món quà mọn như cây viết, quyển tập, tượng ảnh ... không đáng giá bao nhiêu nhưng chúng vừa tạo được sự tranh đua học hành vừa mang đến lớp học chúng tôi một không khí vui tươi, đầm ấm.
      Thầy François là người đưa tâm hồn tôi vào Tân Ước, Cựu Ước trong những giờ Giáo lý, vào văn chương Pháp, vào các tác phẩm lừng danh của Victor Hugo, Alphonse Daudet, Alphonse de Lamartine ... trong những giờ Français, vào những giấc mộng phiêu lưu về quá khứ lẫn tương lai trong những giờ Histoire và Géographie. Nỗi băn khoăn về tôn giáo, nỗi đam mê văn chương, lòng mong muốn phiêu lưu của tôi bắt nguồn từ lớp 6è của thầy. Đây chính là gia tài papa François dành cho tôi, một gia tài đồ sộ tôi nghĩ không có bon points nào mua nổi.


Kẻ được chọn

      Hàng năm, sau kỳ nghỉ lễ Noël và Tết Tây được một tuần, học sinh nội trú Mossard chúng tôi ăn lễ Épiphanie (lễ Ba Vua). Không có chi đặc biệt ngoài việc mỗi đứa được một cái bánh gâteau (bánh ngọt) nhỏ và lòng hồi hộp không biết mình có bắt được chiếc bánh vua hay không. Đó là một chiếc bánh ngọt như trăm chiếc bánh khác, khác chăng là chiếc bánh vua có một viên kẹo ở giữa. Ăn bánh cắn đụng viên kẹo này mới biết mình được làm vua Mossard. Ba vua, mỗi nhà ăn một vua, nhỏ, trung bình và lớn. Thường thường thầy économe (quản lý) đưa cho ba vua một chiếu chỉ để vua nhà ăn lớn đọc cho trăm họ nghe năm nay vua cho ban cho ơn gì. Thường nhất là trưa thứ năm có ăn goûter (ăn quà ban trưa). Tốt  hơn một chút là được đi promenade (đi dạo) ở Mai Thôn. Ơn Ba Vua chúng tôi mong đợi nhất là được đi tắm biển ngủ đêm ở Vũng Tàu, nơi dòng La San có một nhà nghỉ mát ngay tại bãi sau. Có năm chúng tôi mỏi mòn đợi cả tuần không có chiếu chỉ nào của vua, rồi quên đi.  
      Năm học lớp 5è, tôi bắt được cái bánh vua. Giây phút huy hoàng làm vua rồi cũng qua đi; tuy nhiên, sự thật là tôi có hãnh diện và cảm giác ấy còn ở mãi trong tôi cho đến ngày hôm nay.
      Năm ấy, chờ đợi mãi tôi chưa nghe thầy économe nói chi cả. Mấy đứa bạn cứ hỏi nhưng tôi đâu dám hó hé đi hỏi thầy. Có đứa nói, “Tin tao đi, mấy năm trước tao để ý thấy thằng nào con nhà giàu và có đạo mà được làm vua thì mấy ổng mới tổ chức này nọ. Còn mày là cái gì? Thôi, bỏ đi tám!”  Tôi bán tín bán nghi cho đến ngày thứ bảy. Trưa hôm ấy, bạn bè đứa nào cũng sortie (đi phép), tôi ở lại trường vì mới về thăm nhà kỳ nghỉ lễ vừa qua. Đi lang thang một mình gần vườn cây dầu tôi gặp thầy Salomon. Từ xa, thầy đã gọi tôi, “Ah toi, le choisi!” (A ... con, kẻ được chọn!) để chúc mừng tôi bắt trúng chiếc bánh vua.
      Giữa thầy Salomon và tôi, ngoài tình thầy trò và tình thương đặc biệt thầy dành cho tôi lúc tôi bị bệnh như tôi đã kể, chúng tôi còn có tình đồng hương nữa. Thầy quê ở Tha la còn tôi Tây ninh. Tha la từ xa xưa thuộc tỉnh Tây ninh nên chúng tôi coi như cùng quê, cùng xứ. Tôi hay tâm sự với thầy những thắc mắc của tôi về tôn giáo, ngược lại thầy thường hỏi tôi về gia đình ông bà, cha mẹ, anh em của tôi ở Tây ninh. Nhờ vậy mà hôm ấy tôi mới bạo gan hỏi thầy về chuyện ba vua, tại sao năm có chiếu chỉ, năm không. Tôi cũng học lại với thầy lời bàn của đứa bạn. Thầy giải thích cùng tôi rằng chuyện ấy tùy thuộc vào túi tiền của nhà trường, năm nào dư nhiều thì học sinh được đi Vũng tàu, năm nào không dư thì không có gì hết. Đoạn thầy hỏi tôi còn tin đứa bạn ấy không. Tôi trả lời, không chút do dự, “Ça m'est égal car je ... je suis ... je suis le choisi!” (Con không cần biết bạn con nói gì vì ... vì con là kẻ được chọn!) Thầy vò đầu tôi và nói, “Oui, je sais, mon enfant. Tu es vraiment le choisi!” (Đúng, thầy biết con chính là kẻ được chọn!)
      Đó là lý do hôm nay tóc đà bạc trắng mà năm nào vào dịp lễ Ba Vua tôi cũng vẫn còn hãnh diện mình đã có một ngày làm vua Mossard.


Việt Sinh! Phụng Sự!

      Trong hai năm đầu học nội trú Mossard, tôi có vài bạn cùng lớp là Nghĩa Sĩ, ngày lễ mặc đồng phục, thỉnh thoảng được đi cắm trại hay đi dạo thiệt le. Tuy nhiên, tôi thích làm Việt Sinh (JEC - Jeunesse Étudiante Chrétienne - sau này gọi là Thanh Sinh Công) hơn vì đoàn Nghĩa Sĩ toàn là con nít trong khi Việt Sinh cũng có những sinh hoạt như Nghĩa Sĩ nhưng lên trung học chúng tôi mới được gia nhập.
      Năm lên 6è, tôi để dành tiền may đồng phục và xin phép ba má vào Việt Sinh. Đồng phục gồm áo ngắn tay màu xanh lơ, túi có may nút để gắn insigne (phù hiệu), quần sọt màu xanh đậm, giày trắng, vớ trắng cao tới gối.
      Tôi vào Việt Sinh với khẩu hiệu “Việt Sinh! Phụng Sự!” nhưng lúc đầu tôi không biết phụng sự là gì. Thầy Dominique trông nom, hướng dẫn đoàn Việt Sinh Mossard. Chúng tôi được chia thành toán, mỗi lớp một toán. Mỗi tuần một lần chúng tôi họp toán với thầy Dominique sau khi ăn cơm tối, bàn về sinh hoạt tương lai và trong tuần, hay dở thế nào để rút kinh nghiệm cho lần sau. Vì thế mà có bạn gọi chúng tôi là “chó săn” của thầy dòng.
      Mấy năm sinh hoạt Việt Sinh tôi có dịp đi cắm trại nhiều lần, đi viếng các trường La San khác, theo các anh sinh viên Y khoa đi phát thuốc men cho các khu lao động và làm những công tác cho nhà trường như giữ thư viện, phát động phong trào này nọ trong trường. Từ từ tôi nghiệm ra ý nghĩa của “Phụng Sự”, tôi biết sống hòa đồng khi sinh hoạt với toán, biết dấn thân đứng ra giúp gánh vác công việc khi cần và nhất là có tinh thần trách nhiệm.
      Khi tôi vào đời, làm việc cho vài công ty, nhiệm sở, nơi nào tôi cũng được cất nhắc, giao phó phần vụ, trách nhiệm hoàn thành những công trình có tầm vóc. Nhiều khi việc làm quá cực nhọc tôi nghĩ tại mình tuổi con trâu nhưng thật ra vì bổn tánh hay gánh vác công việc tôi học từ tinh thần “phụng sự” của người Việt Sinh vào những năm tháng Mossard.
      Xin cám ơn thầy Dominique, cám ơn các đàn anh Việt Sinh như anh Khâm, anh Hùng, anh Tường và các bạn Việt Sinh như Viên, Đáng, Thanh, Tân ... của tôi.


Những viên đá cuội

      Năm tôi học 4è, thầy Julien làm titulaire và dạy toán lớp chúng tôi. Thầy dạy Mathématiques Modernes (Tân Toán học), hoàn toàn mới lạ đối với chúng tôi. Thầy Julien phụ trách chiếu bóng thay thế thầy Vincent nên thầy coi luôn máy ampli của nhà trường. Thầy là người đầu tiên cho chúng tôi nghe nhạc trẻ trong trường, nhạc của các ca sĩ như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Adamo, Paul Anka, the Shadows với Cliff Richard, the Ventures ... và nhất là the Beatles. Đây quả là một cuộc “cách mạng” vì học sinh Mossard thời ấy không được phép nghe nhạc trữ tình trong trường. Cả trường chỉ có vài bạn mang theo radio loại bỏ túi, mỗi tối ăn cơm xong chúng tôi tụ năm tụ bảy nghe lén các chương trình như Dạ Lan, nhạc ngoại quốc yêu cầu. Thư viện nhà trường có một máy stéréo (âm thanh nổi) nhưng đĩa hát toàn là nhạc classiques (cổ điển).
      Năm này một thầy người Pháp lớn tuổi (tôi cố gắng nhưng không làm sao nhớ tên vị thầy này) đổi đến Mossard dạy chúng tôi môn Français. Thầy dạy rất xuất sắc, trình độ Pháp văn của chúng tôi tiến thấy rõ. Thầy dạy Français ở Mossard có một năm rồi sang Nam Vang dạy ở École Miche. Chúng tôi nghe nói thầy tình nguyện dạy học ở đó cho đến khi qua đời. Lớp chúng tôi có một kỷ niệm vui về vị thầy này như sau.
      Chúng tôi không hiểu sao thầy lại chọn trưa thứ ba để dạy Grammaire Française (Văn phạm Pháp). Buổi trưa nóng bức, buồn ngủ lại phải học Grammaire thì không có chi nản bằng. Mossard có một cái chuồng thật lớn nuôi rất nhiều chim bồ câu. Trưa hôm ấy, khi thầy đang thao thao giảng bài có hai con chim bồ câu  bay đến đậu rồi chúng gù nhau, đạp mái ngay trên thành lan can ngoài couloir. Chắc thầy lấy làm lạ tại sao các cặp mắt học trò đều hướng ra ngoài cửa sổ nên thầy bước xuống bục nhìn theo chúng tôi. Khi ấy hai con bồ câu đã xong công việc nhưng thầy cũng đoán được chuyện gì đã xảy ra và thầy bước ra ngoài xua hai con chim bay đi. Từ đó, thầy không dạy Grammaire cho chúng tôi vào buổi trưa nữa.
      Chúng tôi cũng có một kỷ niệm thật vui với một  thầy người Pháp khác. Đó là thầy Bernard, Bề trên Hiệu trưởng, năm ấy dạy chúng tôi môn Sciences Naturelles. Môn học này có một vài chương về đá. Thầy Bernard mang đến lớp một hộp đựng các loại đá thầy sưu tập cho chúng tôi quan sát. Các viên đá không đánh dấu nhưng thầy biết tên của mỗi loại. Giảng xong một loại đá thầy đưa cho trò đầu bàn và chúng tôi tuần tự chuyền nhau xem. Giờ học thứ hai về đá, khi gom đá để bỏ vào hộp, thầy ngạc nhiên sao hộp đã đầy mà đá còn ngoài bàn, rồi thầy chợt hiểu, mỉm cười, lặng lẽ tách ra những viên đá cuội chúng tôi đã bỏ thêm vào. Phong thái trang nhã của thầy làm lòng chúng tôi xốn xang mặc cảm tội lỗi. Có học sinh nào dám đùa với Bề trên Hiệu trưởng như chúng tôi?

Năm 4è, với thầy Julien, 1965

      Năm ấy, năm 4è, chúng tôi chẳng khác nào như những viên đá cuội ngây ngô của thầy Bernard. Có ngờ đâu chỉ vài năm sau chúng đã mòn lẳng theo những cơn xoáy của dòng đời, của chiến tranh.
      Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng những viên đá cuội trong hộp của thầy Bernard không hề suy suyển dù ở bất cứ thời gian hay không gian nào ... nhất là trong ký ức của chúng tôi.


Thứ ba ... học trò

1.
      Năm tôi vào nội trú Mossard có hai thầy rất trọng tuổi làm surveillant. Đó là thầy Étienne và thầy Marie. Vậy mà chúng tôi vẫn nghịch ngợm, chọc phá hai thầy.
      Thầy Marie có cặp mắt “nhìn bụi ớt chết bụi cà.” Chúng tôi khám phá ra việc này trong giờ étude. Hôm ấy, một bạn ngồi bàn đầu (Nếu tôi nhớ không lầm, đó là bạn Lương Lễ Chuẩn) trò chuyện trong lớp bị thầy rầy nhưng mắt của thầy lại nhìn bạn kế bên. Bạn này ngạc nhiên nói, “Je ne fais rien, cher frère.” (Thưa thầy, con không có làm gì hết.) và thầy trả lời, “Je ne te parle pas!” (Thầy không nói với con!) mà mắt thầy ngó bạn kế bên nữa rồi đi vào cái vòng lẩn quẩn thầy phải chấm dứt bằng cách chỉ ngay mặt bạn đầu tiên. Chúng tôi phá thầy vài lần rồi thấy nhàm chán nên quên luôn đôi mắt đặc biệt của thầy Marie.
      Thầy Étienne năm ấy đã phải chống bâton (gậy) rồi nhưng thầy vẫn còn làm surveillant giờ ra chơi. Học trò gọi thầy bằng biệt hiệu “pa tin” thay vì bâton. Thầy chăm sóc bông hoa, cây kiểng trồng ở hang đá Đức Mẹ, đứa nào mon men đến phá thầy rầy la, lấy bâton xua đi. Vì thầy đi đứng chậm chạp nên có đứa chạy ra xa rồi đứng đó lêu lêu chọc tức thầy. Có lần đến giờ sắp hàng đi tắm thầy đi đến từng hàng học trò tìm ra đứa đã phá thầy.

2.
      Thầy Jules có một lối thổi tu-huýt rất dài để báo hiệu giờ vào lớp thay vì bấm chuông điện. Mấy năm  trung học, mỗi khi nghe tiếng còi của thầy, chúng tôi thường nói với nhau, “ba rỗ” chửi thề rồi đó. Chúng tôi ngỗ nghịch, đặc biệt hiệu cho vị thầy đáng kính này là “ba rỗ” vì mặt của thầy có chút vết rỗ hoa mè.
      Thầy Jules không có dạy tôi lớp nào nhưng tôi học được ở thầy một việc rất hữu ích cho tôi sau này. Mỗi sáng chúa nhật đi lễ chúng tôi phải mặc đồng phục quần trắng, áo trắng, cà-vạt xanh to bản (Sau này đồng phục Mossard đổi thành quần xanh đậm, áo trắng, cà-vạt xanh đậm bản nhỏ.) Vì thế, đi lễ và ăn sáng xong chúng tôi trở lại phòng ngủ để thay đồ. Trong năm đầu trung học, giường của tôi nằm ngay bên phòng của thầy Jules. Sáng chúa nhật nào khi trở lại phòng ngủ tôi cũng nghe thầy Jules mở đĩa  học tiếng Anh trong phòng của thầy, bên ngoài nghe lồng lộng. Thầy tự học tiếng Anh. Sau này, từ năm tôi học Seconde (lớp đệ tam chương trình Việt) ở trường Taberd, người Mỹ đã sang Việt Nam khá nhiều nên tôi nghĩ dù muốn dù không tôi cũng sẽ phải giao thiệp với họ nếu sau này tôi vào quân đội hay làm việc cho công ty tư, cơ quan chánh quyền nào đó. Khi ấy, tình trạng kinh tế gia đình ba má tôi đã khá suy sụp nên tôi không dám xin tiền để đi học thêm Anh văn. Nhớ đến thầy Jules, tôi quyết tâm tự học Anh văn qua chương trình phát thanh đọc chậm bằng Anh ngữ trên đài Sài gòn và tập dịch thuật qua các bài Anh/Việt đăng trên báo vào hôm sau ngày phát thanh. Tôi có ngờ đâu chỉ hai năm sau đó, năm Mậu Thân, tôi phải bỏ học, được một việc làm nhờ vào khả năng Pháp ngữ của những năm Mossard và Anh ngữ tôi tự học. Frère Jules, xin linh hồn thầy chứng giám lòng biết ơn của con!

3.
      Năm tôi lên lớp 5è, thầy Jules đổi sang trường La San khác, thầy Agilbert lên thế chức préfet. Đây là một chức vụ khó thay vì thầy Jules rất có uy với học sinh trong khi thầy Agilbert lại quá hiền. Thầy thổi tu-huýt tiếng nghe rất yếu. Mỗi sáng thứ hai chào cờ, thầy thổi tu-huýt trước micro nhưng nghe cũng không bằng thầy Jules. Mấy lần thầy mở nhạc chào cờ mà để sai tours (vòng), đĩa 45 vòng thầy để 33 nên bài Quốc Ca nghe thật chậm, chúng tôi phải chào cờ lại. Vì thế, đám học sinh ngỗ nghịch chúng tôi cho vị thầy hiền hậu này  biệt danh là “gà chết”. Nói vậy chứ mỗi khi thầy rầy la chúng tôi đứng nghe, im phăng phắc.
      Có hai lần tôi phạm lỗi nhưng thầy Agilbert lại tha tôi, không phạt. Một lần tôi giả chữ ký của ba tôi để xin sortie. Thầy trả lá thơ giả mạo lại cho tôi và biểu tôi đừng làm vậy nữa. Lần khác tôi đi sortie với Nghiệp, hai đứa ra chợ Thủ đức ăn phở, cưa hai một chay la-de con cọp. Tôi bị dị ứng với rượu nên khi trở về trường mặt tôi còn đỏ ké. Thầy điểm mặt tôi, ngón tay trỏ của thầy đưa qua đưa lại, có ý biểu tôi đừng tái phạm. Vậy mà tôi không tởn vì mấy tuần lễ sau tôi ăn cắp một chai rượu vang Mâcon của ba tôi mang vào trường để nhậu với bạn bè ngồi cùng carré (bàn ăn bốn người). Tôi gói chai Mâcon thật kỹ bằng giấy dầu giống như chai xì-dầu để qua mặt các thầy. Nhưng “Trời bất dung gian đảng” mặt tôi đỏ ửng vì ly rượu chát mà tôi nào có hay. Khi tôi đang hí hửng ăn cơm chiều với bạn, thầy Agilbert đến bàn hỏi có phải chúng tôi đang uống rượu. Tôi thản nhiên phủ nhận, đưa ngón tay chỉ ly nước và nói, “Vous voyez, c’est le sirop.” (Thầy thấy đấy, đó là nước si-rô.) Thời ấy học sinh Mossard thường mang theo chai si-rô BGI hột gạo để pha với nước lạnh làm thức uống trong khi ăn cơm, màu si-rô đo đỏ giống như màu rượu chát. Thầy bèn mở giấy gói, lấy ra chai rượu. Tôi hết đường chối. Lần đó, carré chúng tôi bị phạt piquet. Tuy nhiên tôi còn hên vì thầy không gởi thơ về nhà báo cho ba tôi hay chuyện tôi uống rượu trong trường. Từ đó cho đến lúc rời Mossard, tôi không còn “nhậu” nữa.
      Nhưng thầy Agilbert có một lần rầy oan tôi. Tôi có một đứa em bà con học dưới tôi ba lớp. Đó là Sơn, con của dì dượng sáu làm chủ một công ty ở Sài gòn nên rất giàu có. Sơn mới vào học nội trú Mossard nên dì dượng gởi gấm Sơn cho tôi. Vào một buổi trưa thứ năm, dì dượng cùng gia đình đến thăm Sơn bằng một chiếc xe Huê kỳ lộng lẩy. Dì sáu kêu tôi ra ngoài xe cùng ăn bánh gâteau với gia đình dì. Chiều hôm ấy khi chúng tôi sắp hàng đi tắm thầy lưu ý cùng học sinh điều lệ cấm học sinh ra trước trường ngoại trừ có thân nhân đến thăm và thầy nói thêm rằng hôm nay có một trò đi ăn chực nơi đó. Trưa hôm ấy chỉ có một chiếc xe của dì dượng sáu ở chỗ đậu nên tôi nghĩ thầy ám chỉ tôi là người ăn chực vì thầy không biết Sơn là em bà con của tôi. Tôi rất buồn thầy về việc này nhưng vì lòng tự ái trẻ con tôi không thưa với thầy sự thật mà ôm nỗi buồn này trong lòng cho đến lúc rời Mossard.

Kể lại câu chuyện này tôi không có ý nào khác ngoài một kỷ niệm về một sự hiểu lầm đáng tiếc ở Mossard. Tôi vẫn một lòng kính mến thầy Agilbert cũng như mọi sư huynh La San và quí thầy cô giáo đã tận hiến đời mình cho tuổi trẻ Việt Nam.
  
4.
      Nếu kể chuyện về trường đạo mà không nói đến những ngày lễ Giáng Sinh, tôi nghĩ đó là một thiếu sót rất lớn.
      Năm đầu tôi học ở Mossard, vào ngày thứ bảy trước lễ Giáng Sinh mỗi đứa học sinh chúng tôi được nhà trường cho bắt thăm  quà Noël trước khi về nghỉ lễ. Tôi trúng được một món đồ chơi rất “tối tân” vào thời ấy. Đó là một anh chàng hề trượt patin làm bằng thiết, chạy bằng mấy cục pin, gắn vào một sợi dây điện chuyền đến máy điều khiển, chạy vòng vòng, đưa tay, đưa chân rất ngộ. Thiệt là le! Tôi nhớ có mấy bạn đến năn nỉ đổi đồ chơi mà tôi cũng khá khôn, đâu có chịu, cứ ôm trong bụng để đem về nhà chơi với anh em của tôi. Đó là món quà Noël đầu tiên của đời tôi. Hơn 50 năm sau, ngồi viết về kỷ niệm này mà tôi vẫn còn cảm nhận được nỗi sung sướng khi nhận món quà ấy. Xin cảm ơn các frères.
      Trong số bạn học chung lớp với tôi từ năm 7è Spécial đến năm 3è có hai bạn Lương Lễ Chuẩn và Nguyễn Tấn Phước là người có hoa tay. Cha của hai bạn là giáo sư hội họa trường Mỹ Nghệ Bình Dương. Năm 6è, lớp chúng tôi đứng đầu trường về cuộc thi trang hoàng lớp học trong dịp lễ Giáng Sinh. Hai bạn này họa theo hình mẫu các khung cửa kính nhà thờ, vẽ viết chì vào những miếng carton (giấy bồi), chúng tôi dùng kéo và lưỡi lam cắt rồi dán giấy màu. Ban đêm chúng tôi gắn những bức tranh bằng kính giả tạo nầy vào khung cửa sổ lớp học, mở đèn néon (đèn dạ quang) trong lớp, bên ngoài trời tối xem rất đẹp.
      Năm sau, biết các lớp khác sẽ thi đua làm cửa sổ hình màu, chúng tôi bỏ cửa sổ, chú tâm vào hang đá, một hang đá nói lên được cái nghèo khó của Thánh Gia. Bạn Nguyễn Thế Hùng học demi-pensionnaires mang đến một mớ rơm còn phảng phất mùi phân bò để chúng tôi trang hoàng hang đá của lớp. Đó là Thánh Gia dưới một mái tranh nghèo nàn, không một ngọn đèn màu chớp tắt mà chỉ có một ngọn đèn dầu leo lét. Năm ấy lớp chúng tôi lại trúng giải nhất.

5.
      Nhắc đến bạn Nguyễn Tấn Phước làm tôi nhớ đến cái tài phá phách của bạn. Thân hình của bạn ốm tong, tay chân dài thòng nên bạn có biệt hiệu là “khỉ đột” (Nói đến biệt hiệu của bạn mà dấu đi biệt hiệu của mình thì không công bằng. Biệt hiệu của tôi ở Mossard là “Dũng voi” vì so với các bạn tôi hơi lớn con và “có da có thịt”.) Một lần Phước leo vào các cầu tiêu của phòng ngủ lớn, khóa cửa bên trong và tháo ốc bồn nước xả cầu cho nước tự động chảy hoài suốt đêm. Báo hại sáng hôm ấy chúng tôi không thể đi cầu được và không có nước để đánh răng, rửa mặt. Cả nhà ngủ chịu chung một hình phạt là một tuần lễ  không douche, chỉ có tắm piscine. Lần sau, Phước leo chuyền qua lan can ngoài couloir để vào phòng ăn của các frères, lấy trộm thức ăn goûter phân phát cho chúng tôi. Chỉ có một lần thành công vì lần sau đó Phước bị thầy Albert bắt tại trận, đứng piquet ở trụ cờ cả tuần lễ mới được tha.

6.
      Bạn Tăng Khải Hoàn cũng là một tay hay phá phách. Giường ngủ của Hoàn ở đầu dãy, cách đó ba bước là chiếc ghế mây các thầy surveillant thường ngồi lần chuỗi, canh học sinh trước giờ thức dậy. Hoàn than phiền rằng mỗi sáng sớm, mắc tiểu, thằng nhỏ chỏng gọng mà thầy surveillant ngồi đó, thiệt là kỳ. Bạn nói, “Je dois faire quelque chose.” (Tao phải làm cái gì mới được.) Hoàn sanh đẻ bên Pháp. Năm ấy bạn mới theo cha mẹ hồi hương về Việt Nam. “Quelque chose” của Hoàn là một buổi sáng nọ bạn thức thật sớm, trét kem đánh răng vào ghế mây, rồi về giường nằm chờ kết quả thay vì ngủ lại. Hôm ấy thầy Romain làm surveillant nhà ngủ. Thầy vừa ngồi xuống ghế mây, Hoàn nhịn không nổi nên nằm cười khúc khích trên giường. Thầy Romain lấy làm lạ, rọi đèn pin mới hay phía sau áo dòng đen của thầy bê bết vết trắng kem đánh răng. Tôi không biết hôm ấy Hoàn có ăn cây roi mây nào không, chỉ thấy bạn đứng piquet dưới trụ cờ hết mấy ngày.

7.
      Học sinh Mossard cũng có những trò chơi rất rắn mắt. Sau một buổi tắm piscine nọ, thầy François thổi còi để chúng tôi lên bờ thay đồ. Lạ thay chỉ còn có một đứa cứ tiếp tục bơi chó dưới hồ. Thì ra đó là Thượng “Ca lo” học cùng lớp với tôi. Đứa nào lặn tuột quần bạn này và chơi khăm, không trả quần lại cho bạn. Thượng mang biệt danh này vì ai đó khám phá ra rằng bạn có của quí cắt bì. Thay vì rầy la chúng tôi thầy François vờ ngó sang hướng khác. Khi thầy quay lại thì ai đó đã quăng xuống hồ cái quần tắm của Thượng. Hôm ấy chúng tôi thay đồ, sắp hàng đi về phòng ngủ như không có chuyện gì xảy ra. Cho đến lúc tôi rời Mossard trò chơi ngẵng này không hề tái diễn nữa. Tôi phục thầy François.

8.
      Ở trong một môi trường thiếu bóng hồng chúng tôi “khát” gái (nhưng cũng có “nhát” gái) trong những năm trung học. Nhiều lần Mossard có chương trình văn nghệ, mời học sinh trường bạn gần đó, trường Notre Dame des Missions, sang xem. Tôi nhớ lần đầu các cô mặc đồng phục sắp hàng tiến vào trường, mỗi nhóm có một sœur (dì phước) đi kề bên. Vậy mà khi các bóng hồng vừa xuất hiện, chúng tôi đồng thanh lo ó lên. Chiều hôm ấy, khi sắp hàng đi tắm thầy Agilbert lớn tiếng rầy chúng tôi một trận, bằng tiếng Việt, với giọng Huế của thầy, “Cạc anh la như con bò, hẹt như con chỏ!” Nhưng chúng tôi vẫn không chừa, chứng nào tật nấy, lần nào các cô nàng Notre Dame xuất hiện chúng tôi cũng la ó rân trường.
      Một điều tôi thắc mắc là trong suốt sáu năm tôi học ở Mossard bọn học sinh chúng tôi chưa bao giờ được các sœurs mời sang Notre Dame xem văn nghệ. Không mời, chúng tôi cũng sang. Số là hai đứa trong vòng bạn bè chúng tôi có em gái học bên Notre Dame. Đó là Mạnh và Đáng. Mạnh học sau tôi hai lớp nhưng chơi thân với tôi vì bạn là một đồng hương Tây ninh. Hai cô em của Đáng và Mạnh giới thiệu vài đứa chúng tôi với vài cô Notre Dame để thư từ qua lại, một loại pen pals thời nay. Sau vài lần thư từ trao đổi, chúng tôi quyết định xem hình không đã, phải gặp tận mặt các cô. Ở Mossard, mỗi chúa nhật xem lễ, ăn sáng xong chúng tôi được sortie đến 11/12 giờ trưa. Thay vì đi ăn phở hay bún nem nướng ở chợ Thủ đức, hôm ấy chúng tôi lội bộ sang Notre Dame. Mạnh và Đáng dẫn chúng tôi vào nhà trường xin phép thăm em. Khi bước vào khuôn viên nhà trường chúng tôi  thấy các cô nàng đứng bên cửa sổ trên lầu ngoắc tay ra dấu nên rất phấn khởi. Có ngờ đâu lát sau một cánh cửa mở và một bầy chó chạy ra. Chúng tôi chạy ná thở mới thoát bầy chó dữ ấy. Như vậy mà mấy sœurs trường Notre Dame cũng chưa vừa lòng vì chúa nhật tuần sau, thầy Agilbert ký phép sortie cho chúng tôi nhưng thầy lưu ý chúng tôi không được đi về hướng Notre Dame, nếu tái phạm thì sẽ bị cúp phép.
      Các bóng hồng cũng xuất hiện hàng tuần ở Mossard vào trưa thứ bảy, chúa nhật khi các phụ huynh đến trường thăm viếng hay đưa đón con trai mang theo luôn con gái. Trong những giờ thăm viếng, đưa đón ấy học sinh chúng tôi không được bén mảng đến khu vực trước trường, nơi các phụ huynh đậu xe. Tuy nhiên,  “La loi, ce n’est pas la loi.” (Luật, nhưng không phải là luật.) vì chúng tôi vẫn xé rào trồng cây si. Tôi trồng một cây si ở Mossard từ năm 4è cho đến năm Première (đệ nhị chương trình Việt) học ở École Pasteur tôi mới có thể đón nàng ở trường Thiên Phước. Cuộc tình ấy rồi cũng chẳng đi đến đâu nên “ta suốt đời nhớ nhớ quên quên” (“Mai sau dù có bao giờ”, thơ Nguyễn Bắc Sơn).
      Ngoài ra còn có hai bóng hồng ở khu cư xá nhân viên nhà trường, gần piscine dưới đồi. Chúng tôi chơi bóng rổ ở sân gần Đệ Tử Viện, thỉnh thoảng thấy dáng áo dài thướt tha dưới đồi làm vài đứa ngẫn ngơ, bàn luận, ngợi khen hương sắc. Cho đến một buổi chiều chơi bóng rổ xong chúng tôi ngồi nghỉ mệt ở bực tam cấp bằng đá đỏ dẫn lối xuống đồi. Tình cờ chúng tôi thấy một trong hai bóng hồng ấy bước ra tắm bên thềm giếng. Nàng mặc một quần lảnh đen kéo lên khỏi ngực, thản nhiên xách nước giếng lên tắm như không thấy đám con trai chúng tôi. Nàng mở giây lưng quần chà xà bông, dội nước vào trong. Chúng tôi im lặng theo dõi cảnh “tắm tiên”, lòng vẩn đục rồi bỗng thấy mình sao quá “phàm phu tục tử” còn nàng thì sao quá vô tư (hay là nàng coi chúng tôi như con nít?), nên buồn tình kéo nhau đi. Từ đó không ai trong chúng tôi nhắc đến hai bóng hồng này nữa.

9.
      Thầy Albert dạy lớp 6è Préparatoire nhưng khi tôi lên lớp này thầy không dạy học nữa mà làm économe. Chúng tôi gọi thầy bằng “thầy Be” hay thầy “Lê Văn” vì trò nào thầy cũng cho mang họ Lê. Tôi tên Trần Anh Dũng nhưng không hiểu sao thầy luôn gọi tôi là Lê Văn Dũng. Thầy phát âm tiếng Pháp thiệt ngộ, y hệt như mấy ông già miền Nam ngày xưa. Năm ấy lớp chúng tôi chiếm giải quán quân môn bóng rổ lẫn bóng chuyền. Thầy khen lớp chúng tôi, nói rằng “La classe de 5è s’est taillée la part du lion.” (Lớp 5è chiếm giải sư tử.) và thầy nhấn mạnh chữ “taillée” thành “tải dê” thật buồn cười nhưng chúng tôi nào dám cười thầy.
      Thầy Albert trông nom đoàn Nghĩa Sĩ và phụ trách luôn văn nghệ Mossard. Năm tôi mới vào nội trú, “lớn xác” mà còn ở petit dortoir nên tôi được thầy chọn giúp thầy một tay trong công việc cho mướn sách. Thầy cho học sinh mướn đọc các quyển sách hình Tintin, Lucky Luke, Les Schtroumpfs v.v... vào buổi trưa để gây quỹ cho đoàn Nghĩa Sĩ. Nhờ vậy mà tôi đọc trọn mấy bộ sách hình của Pháp không tốn một xu ten nào. Trong sáu năm học Mossard, tôi được thầy Albert chọn trình diễn văn nghệ bốn lần. Một lần trong một màn vũ nước Nga, một lần đóng vai tiên tri Isaia trong vở kịch Noël, một lần vai công nhân trong vở kịch “Nhà Việt Nam” và một lần trong ca đoàn Mossard trình bày bản nhạc “Hội Trùng Dương.” Nhớ lại tôi thấy thật vui và ... hãnh diện nữa.
      Vào năm 2008 tôi ghé Mai Thôn thăm quí thầy. Năm ấy thầy Albert tuổi đã gần 90 nhưng thầy vẫn còn dạy kèm Pháp văn. Nghe có học trò cũ đến thăm, thầy bỏ cô học sinh ngồi một mình trong phòng học, bước ra ngoài, tay bắt mặt mừng trò chuyện với tôi. Thầy Be của tôi “gân” thiệt! Tôi khâm phục thầy.


Một trăm phần trăm


       Năm 3è, niên học cuối cùng ở Mossard, lớp chúng tôi chỉ còn có 21 đứa cố gắng học dọn thi bằng Brevet (Trung học Đệ nhất cấp).

Năm 3è, 1966

       Từ lúc ở nội trú Mossard, mỗi sáng thức dậy trước giờ ấn định tôi thường nghe tiếng chạy rập ràng dưới đường và tiếng đồng ca:

Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn ...
Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang ...

(Hành khúc Lục Quân Việt Nam, tác giả Văn Giảng)

      Đó là những khóa sinh trường Bộ binh Thủ Đức đang chạy tập thể dục trên đường Hoàng Diệu, trước trường Mossard. Nằm trên giường suy nghĩ miên man tôi thầm mong chiến tranh sẽ chấm dứt khi tôi rời ghế nhà trường. Tuy nhiên, tình hình ngày càng tệ hơn sau cuộc đảo chánh vào ngày lễ Toussaint (lễ Các Thánh) năm 1963. Học sinh Mossard trong những năm đầu thập niên 1960 đã có vài đứa phải nghỉ học về nhà để tang cha tử trận. Nhiều kỳ nghỉ lễ đi xe đò về Tây ninh tôi thấy xác xe hơi bị nổ tung còn nằm bên vệ đường. Mấy lần đường bị đấp mô tôi tưởng không về tới nhà hay trở lại trường được. Tôi cũng nhận thấy ba má tôi có nét mặt lo âu khi nghe tiếng đại bác dội về, khi bàn về những trận đánh nơi này vùng nọ. Dù được bảo bọc an toàn trong vòng rào trường nội trú, chúng tôi vẫn cảm nhận được sự hiện diện của chiến tranh.
      Năm 3è bạn bè chúng tôi đã bàn đến chuyện đi quân dịch, đứa nào cũng thấy mình cần phải ráng học thi đậu tú tài I để ít nhất được vào trường Bộ binh Thủ đức, làm sĩ quan. Do đó kỳ thi Brevet không quan trọng lắm, có rớt cũng không sao. Vài đứa đã suy tính chuyển sang chương trình Việt, học nhảy lớp, thi tú tài ban C, dễ ăn hơn với khả năng sinh ngữ của dân chương trình Pháp. Tuy vậy, chúng tôi đứa nào cũng cố gắng học hành trong năm 3è. Có thể nói năm 3è là năm trầm lặng, ân cần chăm chỉ học hành nhất của chúng tôi trong suốt bốn năm trung học đệ nhất cấp. Vì sao? Vì đây là một thử thách đầu đời hay vì chúng tôi đã có chút trưởng thành do sự đe dọa của chiến tranh?
      Năm ấy, thầy Raymond về làm Bề trên Hiệu trưởng, kiêm giáo sư Français và titulaire lớp chúng tôi. Thầy Julien dạy Mathématiques Modernes, thêm hai môn Physiques (Vật lý) và Chimie (Hóa học). Thầy Mừng dạy Việt văn. Viết đến đây tôi cố moi óc nhưng không làm sao nhớ tên các giáo sư dạy những môn khác. Có lẽ vì chúng tôi chú trọng đến Français và Mathématiques hơn hết. Chúng tôi cũng rất chú trọng đến môn Việt văn vì đây là sinh ngữ chánh của chúng tôi có coefficient (hệ số) cao khi thi Brevet. Ngoài phần thi écrit môn này chúng tôi cũng phải vào oral. Chúng tôi không lo môn Anglais lắm vì đây là sinh ngữ phụ, coefficient thấp. Hơn nữa, chúng tôi sẽ phải thi Anglais hoặc Sciences Naturelles, hai chọn một. Đến lúc thi giám khảo xé bao đề thi mới biết Bộ Giáo dục Pháp chọn môn nào. Chúng tôi cũng có suy đoán rằng Tây vốn ghét Mỹ, họ sẽ chọn Sciences Naturelles. Đúng như vậy, năm ấy chúng tôi thi môn Sciences Naturelles. Khi ông giám khảo xé bao thơ, thông báo thi môn này cả lớp thí sinh vỗ tay thích thú.
      Chúng tôi làm cả trăm bài thi mẫu để dọn cho kỳ thi này. Riêng tôi, tôi tự đặt ra hơn chục đề tài Rédaction (Luận văn) rồi tôi tự làm bài, trau chuốt câu văn, sửa lỗi văn phạm. Nguyễn Tùng Thanh giỏi Pháp văn nhất lớp, bạn tận tâm giúp tôi trong công việc dọn thi này.
      Có một chuyện khá thi vị trong lúc chúng tôi soạn thi Brevet. Số là trong phần thi oral môn Việt văn chúng tôi phải chọn 10 bài văn xuôi hoặc văn vần để giám khảo đặt câu hỏi. Bạn Lương Lễ Chuẩn, một trong những bạn tếu lâm nhất lớp, chọn bài thơ “Đĩ già đi tu” của nhà thơ Tôn Thọ Tường. Bạn chú tâm học bài thơ này, dịch xuôi dịch ngược những câu thơ sang Pháp ngữ vì bạn nghĩ rằng tựa bài sẽ đánh vào mắt giám khảo và vị này sẽ chọn để hỏi bạn. Thi xong tôi tò mò hỏi, bạn chỉ mỉm cười. Tôi đoán giám khảo đã chọn bài thơ ấy cho bạn thi nhưng không chắc lắm.
      Kỳ thi Brevet năm ấy học sinh Mossard 21 đứa đậu cả 21, đậu một trăm phần trăm, rồi chúng tôi tứ tán, vĩnh viễn rời Mossard.
      Khoảng một tháng sau chúng tôi (năm đứa bạn thân nhất, Thanh, Đáng, Nghiệp, Viên và tôi) trở lại Mossard để cám ơn các thầy. Chúng tôi chỉ gặp được thầy Raymond, Julien và papa François.

Về mái trường xưa, hè 1966

      Mới có một tháng mà thầy Raymond không nhận ra tôi. Thầy cứ nhìn tôi và nói, “Méconnaissable! Méconnaissable!” (Không nhận ra). Thật ra lúc ấy tôi có da có thịt hơn lúc học thi. Phải chăng thi đậu nên tôi ăn nhậu hơi kỹ? Hay là lúc ấy tôi về Tây ninh nghỉ hè má tôi nuôi tôi kỹ hơn các frères?
      Trong khi đó chúng tôi thấy papa François thật lạ vì thầy để tóc dài thay vì húi cua như lính trong sáu năm qua. Thầy cho chúng tôi hay thầy đang sửa soạn sang Pháp du học. Riêng thầy Julien cứ tủm tỉm cười, hãnh diện về đám học trò của thầy đã làm nên lịch sử Mossard. Chúng tôi là lớp đầu tiên thi đậu một trăm phần trăm.
      Thăm viếng các thầy xong chúng tôi tản bộ quanh trường, bên ngoài cười đùa, nhắc đến từng kỷ niệm Mossard nhưng trong lòng ngậm ngùi nói lời chia tay với ngôi trường thân yêu của mình. Trong năm đứa chúng tôi Nghiệp là đứa duy nhất học nội trú Mossard từ lớp 11è (lớp chót chương trình Pháp). Hôm ấy, tôi hỏi Nghiệp nếu được làm lại ngay từ đầu bạn có trở lại Mossard không. Nghiệp trả lời, không chút ngần ngừ, “Trở lại!” Mỗi đứa trầm ngâm với những suy nghĩ riêng tư sau khi nghe câu trả lời của Nghiệp.

Về mái trường xưa, hè 1966

Tôi nghĩ Đáng, Viên và Thanh cũng có cùng một câu trả lời với Nghiệp. Riêng tôi, nếu được làm lại ngay từ đầu, chắc chắn tôi chọn Mossard.

Dù đã đạt được mảnh bằng Brevet, hãnh diện về thành tựu đầu đời, chúng tôi vẫn còn lối suy nghĩ “con nít” như vậy. Đâu có ai biết rằng chỉ có ba năm sau nhiều bạn trong số 21 đứa chúng tôi đã ở trong quân trường Quang Trung, Thủ Đức, hay tiền đồn đâu đó, gật gù nghe ca sĩ Hùng Cường ca dùm mình câu:

“Một trăm em ơi,
chiều nay một trăm phần trăm   ...”

(Bài hát của lính trước 1975 do nhạc sĩ Vũ Chương sáng tác.)


“Lối xưa xe ngựa
hồn thu thảo”


      Sau hơn 23 năm sống ở xứ người, tôi đưa vợ con tôi về Việt Nam thăm nhà, cho hai thằng con của chúng tôi biết quê cha đất tổ, bà con thân thuộc.
      Trên chuyến bay Cathay Pacific từ Hồng kông về Sài gòn mỗi hành khách chúng tôi được tặng một giấy chứng nhận đã đáp một trong những chuyến bay cuối cùng rời phi trường Kai Tak. Kể từ ngày mai phi trường này sẽ vĩnh viễn đóng cửa, thay thế bởi một phi trường mới, tối tân hơn. Hôm ấy là ngày 5 tháng 7, 1998. Tôi nói với cô tiếp viên:
      “Hôm nay cũng là một ngày đặc biệt của gia đình chúng tôi.”
      Cô tiếp viên cười thật niềm nở:
      “Để tôi đoán xem. A ... hôm nay là ngày đầu tiên gia đình ông bà trở về Việt Nam?”
      Tôi gật đầu, trả lời:
      “Đúng, cô nói đúng nhưng chỉ đúng có phân nửa mà thôi.”
      Rồi tôi vò đầu Lực, thằng con trai thứ hai của tôi đang ngồi ghế kế bên.
      “Hôm nay cũng là ngày sinh nhật của Lực, con của chúng tôi. Cathay Pacific có gì đặc biệt cho nó không?”
      Cô tiếp viên bắt tay chúc mừng Lực, rồi cô nói cô sẽ hỏi viên phi công trưởng chuyến bay.
      Khi máy bay chuẩn bị đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, cô tiếp viên đến hàng ghế của chúng tôi và nói nếu tôi cho phép, Lực có thể ngồi trong cockpit (phòng lái) cùng với phi hành đoàn để xem phi cơ hạ cánh. Đó là món quà sinh nhật của Cathay Pacific. Nhìn gương mặt rạng rở của con, tôi quên hết những hiểm nguy có thể xảy ra trong lúc hạ cánh và gật đầu chấp thuận.
      Hôm ấy Lực tròn 16 tuổi, còn tôi năm 16 tuổi tôi rời khỏi mái trường Mossard. Nhìn phong cảnh Việt nam từ cửa sổ phi cơ tôi bỗng nhớ đến những buổi chiều Mossard năm xưa. Chiều nào cũng vậy, sau những trận bóng tròn bạn bè chúng tôi thường hay ngồi nghỉ mệt và tán dóc ngay tại sân, chờ đến giờ chuông reo đi tắm. Thỉnh thoảng trên bầu trời Mossard có một chiếc máy bay hàng không dân sự hai động cơ phản lực sau đuôi, hình như là chiếc Caravelle, bay ngang, từ từ hạ cao độ trực chỉ hướng Sài gòn. Và, trăm lần như một tôi ước ao ngày nào mình cũng được ngồi trên chiếc phi cơ để bay đến những phương trời xa lạ.
      Nghĩ đến đó, tôi vội nhìn qua cửa sổ, biết đâu mình đang bay ngang qua Mossard, chắc cũng không khó nhận ra vì Mossard có ba ngôi nhà lầu, một sân bóng tròn, ba sân bóng rổ, bốn sân bóng chuyền và một piscine, không kể Đệ Tử Viện. Nhưng đất trời mênh mông “biết mô mà tìm!”
      Tôi nhắm mắt lại. Hình ảnh ngày cuối cùng tôi rời Việt nam bỗng hiện ra. Khi chiếc Chinook chở đám người di tản chúng tôi vụt lên khỏi sân thượng tòa Đại sứ Hoa kỳ, tôi cố gắng ghi lại những hình ảnh cuối cùng của Việt Nam xuyên qua bóng đen của người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ đang ghìm khẩu đại liên, mũi chúi xuống cửa sổ máy bay trực thăng. Đó là hình ảnh hàng ngàn người trong và ngoài khuôn viên tòa Đại sứ. Kế đến là nóc nhà thờ Đức Bà. Khi ấy, trời còn tối, tôi cố gắng nhưng không thấy được mái trường Taberd. Đồng hồ trên tay tôi chỉ 3 giờ 45. Hôm ấy là ngày 30 tháng 4, 1975.

      Phi cơ chạm đất. Tôi giật mình, vẫn không ngờ mình đã trở về quê hương.

      Rời phi trường Tân Sơn Nhứt chúng tôi về Tây ninh ngay hôm ấy. Viếng mồ mả Ông Bà, thăm bà con thân thuộc xong, tôi muốn đưa hai con của tôi đi thăm ngôi trường Tiểu học Tây ninh năm xưa, nơi tôi lần đầu tiên cắp sách đến trường. Nhưng điều này không thực hiện được. Nơi ấy bây giờ là vùng cấm địa, trực thuộc văn phòng tỉnh ủy.
      Mấy hôm sau đi Sài gòn, tôi bao taxi chạy khắp nẻo đường thành phố, chỉ cho con tôi biết những nơi tôi đã có những dấu vết kỷ niệm.
      Ghé trường Taberd, ngôi trường xưa còn đó nhưng đã trở thành một trường sư phạm, không còn bóng dáng những chiếc áo dòng đen. Tôi biểu cậu lái taxi đưa chúng tôi lên Thủ đức. Đến Mossard tôi đứng ngoài nhìn vào trường, lòng buồn vô hạn. Trường cũ của tôi bây giờ mang một cái tên dài thòng, lạ hoắc. Bảng tên Mossard không còn trên trụ cổng nữa.


(Ghi chú: Bản tên trường bị cạy bỏ sau 1975. Anh Nguyễn Thanh Dũng (RIP), một cựu học sinh Mossard lượm cất giữ. Ảnh do hai cựu học sinh Nguyễn Quốc Dũng và Hoàng Anh Tuấn cung cấp cho www.lasanmossard.org)


Hôm sau, tôi có đi gặp Đáng, một bạn cũ Mossard, để hỏi thăm các frères giờ ở đâu. Đáng cho tôi biết người ta chừa cho các thầy một cái chái để ở, ngày xưa là nơi gởi xe của học sinh. Đáng cùng cha con chúng tôi đón taxi trở lại Taberd. Tôi gặp lại vị thầy cũ là frère François. Mừng mừng tủi tủi, hỏi thăm nhau tôi mới biết sau 1975 thầy bị “đại nạn” năm năm cùng với vài thầy Mossard khác, các thầy Julien và Vincent đã về với Chúa, riêng thầy Jules và thầy Salomon (khi ấy tuổi gần 90) đang sống ẩn dật tại Ban Mê Thuột. Thầy François cẩn thận ghi cho tôi địa chỉ và tôi hẹn với lòng mình lần tới về Việt Nam tôi sẽ đi Ban Mê Thuột thăm quí thầy.
    
Với papa François, Tết Nhâm Thìn 2012 tại Mai Thôn

Khi chia tay cùng vị thầy cũ, chạnh lòng tôi nhớ đến bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan ngày xưa tôi học với thầy Mừng ở Mossard:
...
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
...
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


Không chỉ là giấc mơ

      “Chín ơi, bây giờ đi Ban mê thuột mình còn phải đi vòng từ Đà lạt không vậy chú?”,  tôi hỏi đứa em còn ở Việt Nam. Chú cười, giọng có chút khôi hài:
      “Ông anh ơi, sao ông nhà quê quá vậy!? Bây giờ yên rồi mình đi từ Tây ninh băng qua Chơn thành rồi bắt quốc lộ 14 đi thẳng đến đó. À, bây giờ người ta gọi là Buôn Ma Thuột.”
      “Ban hay buôn, ma hay mê cũng được. Đi bao lâu tới?”
      “Anh hỏi chi vậy? Đi thăm ‘người xưa’ hả? Khoảng 350 cây.”
      “Ờ, thì người xưa! Nhưng người xưa đây là hai ông thầy cũ. Đi và về hai ngày đủ không?”
      Tôi hỏi chú em như vậy vì chuyến này tôi đưa vợ con về Việt Nam có hai tuần lễ, trừ đi mấy ngày ngồi máy bay, thời gian thăm quê nhà không có bao nhiêu. Vì quá bận công việc làm nên tôi không thể lấy phép lâu hơn được.
      “Dư sức. Nếu ba bốn giờ sáng mình khởi hành thì sẽ đến Buôn Ma Thuột khoảng 12 giờ trưa. Ngủ đêm ở đó rồi sáng mai trở về. Đường đi cũng khá tốt, không mệt lắm đâu. Anh chị và mấy cháu sẽ có dịp xem phong cảnh vùng Tây nguyên ...”
      Tôi nhờ chú em mướn xe để sáng sớm hôm sau chúng tôi khởi hành ngay. Vợ con tôi nghe nói hai ngày ngồi xe, lắc đầu, xin được ở nhà chơi cho khỏe.
      Đúng như ước tính của chú em, chúng tôi đến Ban Mê Thuột khi trời vừa xế ngọ. Ăn trưa xong, tôi nhờ tài xế lái đến số 133B đường Phan chu Trinh.
      Đã gần 40 năm tôi chưa gặp lại thầy Salomon lần nào nhưng tôi nhìn ra thầy ngay. Gương mặt thầy có chút thay đổi, tóc thầy chỉ còn ít cọng lưa thưa, bạc trắng, tướng đi của thầy lụm cụm. Tôi dặn chú em cứ đi chơi đâu đó, khoảng hai giờ sau đến đón tôi. Tôi đến bên, khoanh tay cúi đầu chào thầy:
      “Thưa frère, frère khỏe không?”
      Thầy nhìn tôi, ánh mắt của thầy khi ấy giống như một ngọn đèn bựt sáng vào gương mặt của tôi trong giây lát rồi vụt tắt.
      “Thưa ông, ông là ai mà gọi tôi bằng frère?”
      “Dạ, con là Dũng đây frère. Dũng học Mossard từ năm 60 đến 66 ...”
      “Dũng nào? Nguyễn Tiến Dũng học frère lớp 10è hay Dũng ... Ơ ... frère có nhiều học trò tên Dũng lắm. Xin lỗi con, lâu quá rồi frère không làm sao nhớ ...”
      “Dạ, con là Dũng quê ở Tây ninh, Dũng ‘le choisi’ đó frère! Năm ấy con ở nội trú, học lớp 7è Spéciale mà ngủ ở petit dortoir đó ...”
      “A ... Chúa ơi! Frère nhớ ra rồi.  Dũng ... con ... con làm gì ở đây?”
      “Dạ, con tìm thăm frère.”
      “Ôi, Dũng ơi, frère mừng ... mừng quá! Con ngồi xuống đây. Bây giờ con ở đâu? Ai ... ai cho con biết frère ở đây?”
      Thầy vừa nói vừa kéo tôi ngồi xuống chiếc băng gỗ dưới một bóng cây gần đó rồi thầy trò chúng tôi thi nhau hỏi thăm và kể cho nhau nghe những kỷ niệm năm xưa. Khi tôi nói đùa với thầy rằng tôi nghe nói bây giờ thầy là “chuyên gia” nuôi heo, nuôi thỏ và cũng là một nhà làm vườn chuyên nghiệp, thầy thao thao bất tuyệt kể chuyện cây cối thầy trồng, chuyện thú vật thầy nuôi ... cho đến lúc chú em của tôi đến đón, tôi đành phải nói lời chia tay cùng thầy. Khi bắt tay từ giã thầy tôi kín đáo nhét vào tay thầy vài tờ đô-la, chút quà mọn xin thầy chuyển cho nhà dòng. Thầy nắm tay tôi, siết chặt như không muốn rời. Tôi xin phép được đọc cùng thầy những câu kinh ngày xưa thầy đã dạy cho tôi:

“Notre Père, qui êtes aux cieux
Que votre nom soit sanctifié.
Que votre règne arrive ...”

(Những câu đầu của kinh Lạy Cha)

      Sau khi thầy trò chúng tôi đọc xong bài kinh chót, kinh Gloire au Père (Kinh Sáng Danh), thầy nhìn thật sâu vào mắt tôi và hỏi:
      “Con ... sau bao nhiêu năm con vẫn còn nhớ những câu kinh này ... Con ... hay là ... hay là con đã trở lại với Chúa?”
      Tôi nhìn đôi mắt nhân từ của thầy, nhè nhẹ gật đầu. Ánh mắt của thầy bỗng lóe lên như vì sao Bắc Đẩu, thầy ôm lấy tôi và thầy nói, giọng run run:
      “Oui, je sais, mon enfant. Tu es vraiment le choisi!”
      Tôi bàng hoàng, cảm động. Đây chính là câu thầy nói với tôi năm xưa, năm tôi bắt được chiếc bánh vua, năm tôi được một ngày làm vua Mossard. Tôi ôm thầy, đầu cúi trên vai thầy cho đến khi cảm thấy một cơn gió lạnh thổi luồn dưới chân, cuốn theo vài chiếc lá khô. Tôi chợt thấy trong đám lá ấy có mấy tờ đô-la tôi vừa trao cho thầy. Tôi vội buông vai thầy, hai chân vụt chạy, hai tay cố chụp lại mấy tờ đô-la. Tôi la lên:
      “Frère! Frère! Đô-la! Đô-la! Bay! Bay rồi!”

      Bỗng ai đó lắc mạnh vai tôi. Tôi giật mình ngồi dậy, mới hay tôi đang ở trong phòng ngủ nhà mình, chăn mền bị tôi đạp tung, chân tôi lòi ra ngoài, lạnh buốt với cái rét Minnesota. Nhà tôi ôm vai tôi hỏi:
      “Anh thấy chi mà la to rứa?”
      Tôi nhớ lại giấc mơ, khe khẽ nói:
      “Anh mơ thấy anh đi thăm frère Salomon ở Ban Mê Thuột. Hồi hôm trước khi ngủ anh lên internet xem trang lasan mới hay frère đã qua đời. Hè năm rồi đáng lý ra mình về Việt Nam rồi đi thăm frère nhưng anh bận công việc quá. Bây giờ thì trễ rồi, anh thật ân hận ...”
      “Em nghĩ anh đọc tin buồn rồi để trong tâm trí nên mới nằm chộ thấy frère. Mà răng em nghe anh la lên, hình như là ‘đô-la, đô-la, bay, bay’ rứa?”
      “Anh thấy mấy tờ đô-la anh vừa biếu frère sao tự nhiên bay cuốn theo một cơn gió rồi anh chạy theo cố chụp chúng lại ... A ... em ơi, anh nghiệm ra rồi! Phải chăng ... phải chăng frère về nhắc khéo anh sao cứ mãi mê đeo đuổi công việc, cứ chạy theo đồng tiền?”
      Nhà tôi nắm lấy tay tôi một hồi lâu o mới ngọt ngào nói:
      “Anh, em ... em muốn nói với anh việc ni lâu rồi nhưng mô dám. Anh bay đi công tác xa hoài, miệt mài làm việc, bỏ mạ con em ở nhà buồn chi lạ. Có nhiều ngày chúa nhật mạ con em đi lễ mà không có anh. Thôi, việc ni nặng nhọc quá, anh tìm việc khác, anh hỉ. Để anh có thể ở nhà với mạ con em nhiều hơn ... Chừ hai đứa mình đọc cho frère vài kinh, rồi mình ngủ lại hỉ ...”
      Tôi siết tay nhà tôi, lòng tràn đầy hạnh phúc. Tôi thầm cám ơn thầy Salomon, vị ân sư của tôi, rồi tôi tự nhiên bắt câu kinh, “Notre Père, qui êtes aux cieux ...” nhưng câu kinh ấy bị gián đoạn bởi cái siết tay ra dấu của nhà tôi. Tôi giật mình, bắt lại câu kinh bằng tiếng Việt, “Lạy Cha chúng con ở trên trời ...”


Trần Anh Dũng
Apple Valley, Minnesota
Cận Xuân Quí Tỵ, 2013

 
Lời bạt

      Từ lâu tôi có ý định viết về những đoạn đường tôi đã đi qua, để suy gẫm về cuộc đời, để chia sẻ cùng bạn bè và để cho con cháu của tôi biết chút ít về thế hệ cha ông của chúng. Tuy nhiên, viết về mình không phải là một chuyện dễ làm.
      Chần chừ mãi cho đến lúc đọc lời kêu gọi của sư huynh Nguyễn Văn Phát, Bề trên Giám tỉnh Ḍng La San Việt Nam trên mạng w
www.lasan150.org tôi mới bạo gan viết những trang hồi ký này về những năm tháng tôi học nội trú tại trường La San Mossard Thủ đức.
      Khi bắt đầu đặt bút tôi nghĩ chắc không khó vì mình đâu có viết về mình mà chỉ viết về những tâm tình, kỷ niệm với mái trường xưa, thầy cũ và bè bạn thời niên thiếu. Tuy nhiên, đây là một việc làm khá phức tạp vì tuổi tôi đã vào lục tuần, trí nhớ đã ít nhiều bị lão hóa. Nhìn một tấm hình, nhớ đó là năm học 3è nhưng tự hỏi sao lại có bạn này vì hình như khi ấy bạn đã rời trường. Thôi thì, nhớ đến đâu viết đến đó. Nếu có sai vài chi tiết bạn bè cũng sẽ lượng tình châm chước. Nhờ vậy mới có những trang “Năm tháng Mossard” này.
      Công ơn cha mẹ đã hy sinh, làm lụng vất vả cho tôi ăn học ở trường Mossard, tôi nào dám quên.
      Ân tình của quí sư huynh La San và quí thầy Mossard đã cho tôi một hành trang quí giá để vào đời, đặc biệt vào một thời điểm khó khăn của đất nước, tôi xin  ghi dạ.
      Tôi cũng xin cám ơn các bạn Mossard đã cùng tôi chung sống và học hành trong tình anh em bè bạn dưới mái trường đạo,  trong tình đồng môn sau khi rời trường lớp vào những năm tháng chiến tranh và mãi cho đến bây giờ, trong thời gian lưu lạc ở xứ người. Xin cám ơn bạn Lê Hoàng Nghiệp đã cung cấp cho tôi những hình ảnh Mossard xưa tôi đã đánh mất trong cơn loạn lạc; đặc biệt hai bạn Nguyễn Quốc Dũng, Hoàng Anh Tuấn đã chuyển hình ảnh bản tên trường cũ đến
www.lasanmossard.org.
      Sau cùng, tôi xin cám ơn sư huynh Nguyễn Văn An (mạng
www.lasan.org) và các bạn Lý Hữu Phước, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Quốc Hưng (mạng www.lasanmossard.org) đã có lời khích lệ, giới thiệu và góp ý, giúp tôi hoàn thành tập hồi ký này.

Xin đa tạ.
Trần Anh Dũng
Cận Xuân Quí Tỵ, 2013


NamThangMossard

Tải Về - Click to download the book                                                                                                                                                                                        Bản Anh ngữ




Ý Kiến / Đề Nghị