Cảnh Cũ Người Xưa


Trong quán, năm thanh niên ngồi uống cà phê sáng. Thỉnh thoảng, một người dáo dác ngó ra đường như trông chờ ai đó. Câu chuyện từ người này chuyển sang người nọ. Minh Giả cho biết vẫn còn ở “Giồng Ông Tố”, đang chờ làm thủ tục đi du học. Anh ta có người chị hiện định cư bên Pháp. Quang Hòa kể chuyện thi nhảy Tú Tài I Việt rồi đậu vào Đại Học Sư phạm Sài Gòn. Văn Bé (Bé việt cộng) còn đi đi về về từ Bình Dương vào Sài Gòn chuẩn bị theo học Văn khoa. Công Sơn thì cũng bước vào đại học. Anh ta huyên thuyên khoe khoang dàn máy Akai tối tân vừa sắm.
 
Ba chiếc Honda trờ tới ghé vào quán. Mọi người đảo mắt ra đường ngưng tán chuyện. Minh Giả lớn tiếng :
 
    -  Mấy cha đến trễ quá vậy ! Dân trường Tây mà xài giờ dây thun hả ?
    -  Chờ cái thằng quỉ Dung “trang điểm” đây nè.
 
Dung, tướng người mảnh khảnh, nước da hơi sậm phân trần :
 
    -  Có mươi phút chớ lâu lắc gì. Sinh viên thì phải ăn mặc chỉnh tề chút chớ.
    -  Thôi tính tiền đi. Mình đi cho sớm, hơn tám giờ rồi.
 
Sáu chiếc Honda chở chín người hướng về ngã tư Hàng Xanh. Thỉnh thoảng hai chiếc cặp kè lớn tiếng dặn dò nhau đủ mọi chuyện. Đến ngã tư Thủ Đức, xe giảm tốc độ tắp qua con lươn bên trái rồi rẽ vào chợ Thủ Đức.
 
Đến cổng trường Lasan Mossard, mọi người sang số, tăng ga lên dốc. Bác gác cổng bước ra nhìn chúng tôi chăm chú. Tôi đạp thắng dừng lại trước cửa nhà gác dan gật đầu mỉm cười:
 
    -  Chào bố. Lâu quá mới gặp lại, bố cho chúng con vào thăm trường cũ.
 
Nhận ra đứa học trò đã từng sống tại đây, ông vui vẻ bước đến gần chiếc C 50 của tôi vịn gui-đông nói :
 
    -  Chà ! Lâu dữ rồi hé. Lớn bộn rồi. Giờ đang làm gì, còn học không ?
 
    -  Dạ, lâu thiệt ! Con đang tiếp tục học ở Sài Gòn, Đại học Sư phạm. Các bạn đây cũng vào đại học hết rồi. Ông quay qua nhìn một lượt chúng tôi.
 
Chiếc xe ngừng ngay dốc hơi chao đi. Tôi vội vàng xiết tay thắng chống chân xuống đất. Tôi gật đầu chào bác gác cổng :
 
    - Thôi tụi con xin phép vào thăm trường.
 
Tôi quay sang ra hiệu cho các bạn rồi rồ ga chạy trước. Xe đảo qua phía piscine, vòng lên con dốc đất đỏ sát bên “Đệ tử viện” rồi chậm chậm chạy dọc theo sân cây dầu. Cảnh vật hiện ra vẫn như ngày nào chúng tôi còn học ở đây. Đến préau, chúng tôi dựng xe, đảo mắt nhìn khắp một lượt ngôi trường thân thương ngày cũ. Chúng tôi lên lầu tìm gặp frère Fidèle. Trong phòng Hiệu trưởng có mấy người khách tò mò nhìn chúng tôi. Tôi ngầm ra hiệu với các bạn và xin phép đi thăm trường.
 
Trở xuống sân, Minh Giả hỏi :
 
    -  Ghé đâu bây giờ đây ?
 
Tôi đề nghị :
 
    -  Mình lên sân bóng rổ cũ đi. Một chút tụi nó ra chơi thì lu bu lắm. Trên đó yên tịnh, ngắm lại “dinh Độc lập” của tụi mình cho đã mắt.
 
Cả bọn lấy xe tà tà lên sân bóng rổ. Chúng tôi chọn một góc mát phía sân “volley” (bóng chuyền) ngồi kể chuyện đời xưa. Công Sơn lại thao thao về máy Akai và dàn âm thanh. Một lúc, Minh Giả chen vào :
 
    -  Âm thanh hay còn phụ thuộc vào công suất tương thích giữa ampli và cặp thùng. Vị trí lắp đặt loa cũng phải đúng để nghe được “stéréo”.
 
Công Sơn hơi cụt hứng. Biết đụng phải tay “nhà nghề”, anh ta quay sang bàn tán, thăm dò, học hỏi với Minh Giả. Tôi vội xen vào gạt ngang :
 
    - Lên đây họp mặt thăm trường cũ mà bàn chuyện gì đâu không hà. Mấy cha có nhớ buổi liên hoan cuối năm 3è, frère Fidèle tặng lớp mình chai rượu Champagne không? Rượu quí của Vatican đó. Frère nhắc nhở tụi mình cố gắng trở lại trường để họp mặt, nhớ hông? Khi tao về học chương trình Việt ở tỉnh thì không có điều kiện liên lạc với tụi mầy. Năm nay tao vào Đại học Sư phạm Sài gòn gặp lại thằng Minh Giả thì mới kêu tụi bây họp mặt để bàn việc này. Ý của tao là bọn mình cố gắng giữ liên lạc với nhau. Có biết bao kỷ niệm nơi đây để kể lại cho con cháu tụi mình sau này.
 
Một thoáng yên lặng. Mọi người mơ màng như đang thả hồn tìm lại “những ngày vàng…”. Trong nhóm, có tôi và Minh Giả là dân học lâu nhất của trường. Anh ta nhìn tôi với cặp mắt tri kỷ :
 
    -  Mầy có công nhận từ khi frère Fidèle về làm Hiệu trưởng, sinh hoạt của trường sôi động hơn nhiều không?
 
Tôi giơ ngón trỏ ra xác nhận :
 
    -  Đúng là như vậy. Từ khi tao với mầy mới vào học nội trú, việc học tập, vui chơi đã giúp mình ngày một “Tiến lên”. Nhưng kể từ khi có frère Fidèle, luồng hơi sinh hoạt trong trường sôi động hẳn lên. Tao thấy bọn mình bị cuốn hút theo sức hấp dẫn mới lạ đó. Frère dùng từ “Huynh trưởng” khiến cho tinh thần “Tôn Sư trọng đạo” thêm phần ấm áp, thân mật. Frère còn tổ chức bầu ra Ban Đại diện học sinh nữa. Từ hồi nào đến giờ có cái Ban này đâu. Ngoài trưởng phó lớp, mình chỉ biết có “chef d’équipe” (trưởng toán) thôi.
          
Minh Giả quay sang ngắt lời tôi :   
 
    -  Ê Hòa, mầy có thấy năm đó, đứa nào có năng khiếu gì thì bộc lộ ra ngay không?
 
    -  Thì phải rồi ! Cái mới trong năm đó là thi đua vẽ bích chương và làm bích báo. Lớp mình có thằng Hoàng Giáp vẽ rất đẹp. Hoàng Giáp còn làm bài thơ tiếng Pháp dài kể chuyện lớp mình trên bích báo nữa, thật là hay. Còn thằng Henry Lin ít chơi với ai mà cũng tiếp tay với lớp.
 
    -  Ê Hòa. Mầy còn nhớ mấy con “cúc” hông?
 
Tôi hơi giật mình rồi sực nhớ ra chuyện những con “cúc”. Nhìn qua sân cây dầu rợp mát phủ lớp cát trắng, tôi trả lời :
 
    - Ừ ! Lâu quá rồi, mầy nhắc tao mới nhớ. Thằng gì… thằng Đình Dũng phải không? Nó dắt tụi mình lên sân cây dầu, tỏ vẻ bí mật chỉ cho tụi mình xem con “cúc”. Trên mặt cát có mấy cái hang nhỏ cỡ bằng đồng bạc cắc lõm xuống như cái quặng (phễu). Nó quì gối chổng mông thổi phù phù, cát dạt lên miệng hang. Cái hang từ từ rộng ra. Một con vật nhỏ đen đen hiện ra, động đậy rồi lại cố vùi mình dưới lớp cát. Hết hơi, nó thẳng người lên hít một cái dài rồi cúi xuống thổi tiếp. Nó thổi tới đâu thì con “cúc” thụt lùi tới đó. “Ngộ” thiệt.
 
Lúc đó, tôi tò mò lấy cuống lá chặn đuôi nó, lật ngang. Trên mặt cát hiện ra một con “quái vật” nhỏ bằng hột tiêu. Chưa kịp xem mặt mũi nó thế nào thì nó lại lúc lắc lủi xuống cát để lại một cái quặng nhỏ như ban đầu. Minh Giả lấy một chiếc lá đưa tôi :
 
    -  Cho nó lên đây đi.
 
Tôi khều con vật bé tí, lùa nó lên miếng lá. Lúc này nó mới chịu nằm im cho bọn tôi ngắm nó. Tôi quay qua hỏi Đình Dũng :
 
    -  Sao kêu nó là con “cúc” ? Tao chưa biết và chưa thấy con này bao giờ.
 
    -  Tên của nó là “cúc” thì gọi là con “cúc” chứ sao ! Tao chỉ biết vậy.
 
Chúng tôi chụm đầu ngắm con “quái vật nhí”. Nó “nhí” quá khiến chúng tôi không nhận rõ hết các chi tiết. Tất cả còn e dè không biết nó có “độc” không. Chưa đứa nào dám động tay vào. Đình Dũng trút nó qua bàn tay giơ cao lên ngang mặt chúng tôi. Con vật bật ngửa, phình cái bụng to gấp nhiều lần cái đầu bé xíu. Cái bụng to mà mềm xèo như bong bóng, còn cái đầu thì gần như không thấy rõ.
 
Tôi lại hỏi Minh Giả :
 
    -  Mầy còn nhớ cái anh gì ốm nhom cao nhòng học trên mình một lớp không ? Ảnh cũng có đóng kịch hồi năm học 8è đó.
 
    -  Mầy nhắc ngang, tao đâu có nhớ tên. Nhưng mầy muốn nói đến cái thòng lọng bắt cắc ké chứ gì ? Thằng chả khéo tay thiệt, làm cái thòng lọng bằng cọng cỏ đẹp mà chắc ghê. Chả bắt cắc ké là khỏi chê vào đâu. Chả nhắp nhắp cái vòng là dính một con ngay. Còn thằng Tuấn, nó nấu con cắc ké mà có thằng nào dám ăn đâu. Còn tao với mầy bắt được cắc ké thì chích “formol”, mua của frère Eugène đó. Vài bữa sau nó khô queo, trơ bộ xương xấu hoắc. Frère bảo tụi mình phải ngâm nó trong “formol” mới giữ lâu được.
 
Tôi thú thật với Minh Giả :
          
    - Nói thiệt, từ khi tao vào đây học, tao gặp toàn những con vật kỳ lạ đến phát ớn. Xem phim “Thám hiểm dưới lòng đất” thấy mấy con khủng long bò sát là nhớ mấy con cắc ké ngay. Ở quê tao (miền Tây) đâu có thấy chúng. Chỉ thấy rắn mối thôi. Ờ, còn mấy con cào cào nữa, nhớ hông ?
 
    - Ừ. Mấy con đó “ngộ” ghê. Bộ cánh của nó bự bằng cái lá cây, xanh lè, dựng đứng lên như cái mái nhà dân xứ thượng. Mà nó đậu trên cây cũng khó nhận ra lắm, cứ tưởng như chiếc lá thôi. Đằng đuôi nó có mang thêm cây đao, nhớ hông? Chích “formol” giữ được vài bữa, sau lấy ra xem lại thì có con gì ăn thịt nó, đôi cánh lủng lỗ tùm lum. 
 
Chúng tôi còn làm những chiếc vợt bằng bọc nylon đi bắt bướm. Chúng bay dập dìu ở một vài nơi còn hoang sơ trong trường. Chúng nhấp nhô bay lượn phía cuối sân bóng rổ cũ, cây cỏ còn um tùm. Chỗ này có chiếc cầu thang làm bằng đá ong. Chúng tôi bắt được con nào đẹp thì “lụi” chúng một mũi “formol”. Bộ sưu tập của tôi khá nhiều nhưng không giữ lâu được.
 
Tôi thử hỏi Minh Giả :
 
    -  Mầy còn nhớ cái hôm tụi mình bắt được con bò cạp không ?
 
    - Nhớ sao không ! Buổi chiều đó mưa quá xá chừng. Chừng tạnh mưa tụi mình lên sân cây dầu chơi xây lâu đài trên cát. Thằng Đình Dũng khéo tay nhất. Nó bụm nắm cát ướt nhỏ từng giọt thành một cái lâu đài cao nhất. Mầy thì dở ẹt, chưa được một tầng nữa thì đã sụm xuống rồi. Tao nhìn thấy con bò cạp trước tiên nè. Tụi mình bu lại xung quanh mà có thằng nào dám rớ nó đâu ! Một hồi mầy mới lấy nhánh cây khô đè cái lưng nó. Cứ trật vuột hoài, mà nó lại giương hai cái càng ra, cong chiếc đuôi nhọn hoắc lên, thấy ghê.
 
    -  Rồi cuối cùng tao cũng đưa nó vào cái lon đồ hộp được vậy.
          
Chúng tôi đem nó lên nhà ngủ. Sau khi tắm, đến giờ étude (giờ tự học) tôi và Minh Giả đem chiếc lon ra. Hai thằng lừa thế, cố cột sợi dây gai ngang lưng nó. Minh Giả cầm cây thước đè đầu nó. Tôi lấy ống chích, rút thuốc rồi tiêm ngay vào lưng nó. Hai thằng, chưa có thằng nào dám mó đến con bò cạp. Một hồi, thấy êm, chúng tôi bắt đầu sửa tư thế đứng của nó. Tôi vừa đè lưng của nó vừa nâng hai cái càng giương cao lên. Minh Giả nắm lấy đuôi uốn cong lên như đang tấn công địch thủ. Được một lúc, mỏi tay, tôi buông con bò cạp ra. Minh Giả cũng làm theo tôi. Đuôi càng từ từ hạ xuống. Bọn tôi lính quýnh sửa lại tư thế của con bò cạp. Frère Julien từ phòng préfet xuất hiện bất thình lình. Frère bước vào lớp nhìn qua rồi tủm tỉm cười bước ra. Cuối cùng, con bò cạp được sửa cho cong đuôi lên và giương đôi càng ra. Tuy nhiên, nó lại từ từ nằm bẹp sát đất, trông thật là thảm.
 
Mấy hôm sau, frère Julien đem vào lớp bộ sưu tập những sinh vật đã được chích “formol” khoe với chúng tôi. Một chồng hộp mi ca màu xanh có nắp đậy màu trắng trong đựng nào là ong, nào là bướm, nào là dế cơm, bò cạp, v.v. Tôi ngắm nghía con bò cạp chồm lên giương càng lên, cong đuôi ra phía trước như đang ở tư thế tấn công. Những con bướm, con ong cũng được giữ ở tư thế rất sống động. Frère dùng một cây kim gút đâm qua lưng, gắn chúng lên môt tấm bìa carton mỏng. Nhìn kỷ thì thấy chân của chúng được dán dính vào tấm bìa bằng băng keo scotch. Công trình thật là công phu. Còn chúng tôi thì thật là vụng về.
 
Chúng tôi cũng tình cờ bắt được những con kiến dương. Nó to bằng ngón tay cái, đen thui. Trên đầu nhô ra một cặp sừng chỉa thẳng ra phía trước. Trông nó giống con tê giác hai sừng, rất đáng sợ. Tuy nhiên, nó có vẻ lờ đờ, hiền khô.
 
Trong sân trường còn có con “xén tóc”. Con vật thon dài như ngón tay. Đôi râu còn dài hơn cái mình của nó nữa. Miệng nó có hai cái càng bén ngót. Chúng tôi lấy sợi tóc nhử vào thì nó rít lên éc éc “xơi” một cái đứt ngọt. Có thằng chơi ác ném con “xén tóc” lên đầu bạn khiến anh này la chói lói, sợ bị trọc đầu.
 
Vào mùa mưa, chúng tôi cũng bắt được con “cà cuống”. Cà cuống thì tôi đã có nghe tên nhưng chưa từng gặp. Trong lớp có thằng Tuấn, dân Bắc 54, nhà bán bánh cuốn hỏi chúng tôi :
 
    -  Tụi bây có nghe nói nước mắm “cà cuống” chưa ? Thơm ngon không chê vào đâu được. Đó là nhờ cái con này đây.
 
Tuấn gom mớ lá khô trên sân lại. Nó nhóm lên đống lửa rồi vùi con cà cuống vào đó. Chẳng bao lâu, một mùi thơm cay cay quyện theo khói bay lên. Nó vẹt mớ lá còn đang cháy âm ỷ, khều con cà cuống ra khỏi đống lửa. Bóc con cà cuống lên, nó thảy qua thảy lại trên tay, thổi phù phù. Nó lấy tay quét lớp tro bụi đen thui. Con cà cuống khô chính hiện ra vàng rượm. Nó ngắt ra bốn phần chia cho chúng tôi. Mỗi đứa chỉ được một miếng tí tẹo. Nó cho vào miệng nhai ngon lành. Chúng tôi cũng bắt chước làm theo nó. Thật là một miếng ngon, dòn, thơm khó tả.
 
Từ dãy lớp học bỗng vang lên tiếng chuông quen thuộc ngày nào. Đã hết giờ học buổi sáng. Học sinh lần lượt xuống sân. Tiếng nhồi bóng vang lên nơi sân bóng rổ trước nhà nguyện mới. Sân bóng càng lúc càng đông. Sân bóng rổ mới láng bóng phản chiếu ánh nắng ban trưa chói chang. Một tốp đi lên sân bóng rổ cũ, tò mò nhìn chúng tôi. 
 
Thật tình cờ, tôi gặp Pierrot Apikelis nạn nhân của đầu đạn M79 năm xưa. Vẫn dáng người nhỏ nhắn, anh ta chống chiếc nạng, chậm rải đi cà nhắc lên nhập bọn với chúng tôi. Anh ta mặc chiếc quần dài che mất bàn chân phải bằng gỗ. Ngồi cạnh tôi, anh ta kéo ống quần lên, vừa cười vừa nói :
 
    - Tại ông mà cái chân tôi mới như thế này đây.
 
Tôi nhìn anh ta ái ngại chưa biết nói gì để xin lỗi thì Minh Giả đỡ lời :
 
    - Thôi lỡ rồi, chuyện xui rủi mà. Có ai muốn vậy đâu ?
 
Tôi khẻ choàng vai Pierrot phân trần :
 
    - Tao không dè đã gây nên chuyện đau buồn này cho mày. Mà tao đâu phải là chủ cái đầu đạn đó đâu. Henri Lin đã cất giữ nó mấy tháng trời trên nhà ngủ mà đâu có ai biết. Hôm đó, nó nhờ tao đem bỏ. Thật sự tao không cố ý. Lúc đó tao chỉ nghĩ cách để thủ tiêu cái đầu đạn thôi. Ai dè…
 
Một vài học sinh bước vào sân bóng chuyền. Họ cởi áo chuẩn bị chơi bóng. Tôi bỗng nhớ lại những ngày mình còn học nơi đây. Lớp chúng tôi được phát cho ba quả bóng: bóng tròn, bóng chuyền và bóng rổ. Cả lớp rất vui mừng nhận những món quà này. Chúng tôi cẩn thận lấy viết “bic” vẽ tên lớp lên các trái bóng. Chúng tôi còn nhờ các bạn “externes” (ngoại trú) mua mỡ bò trét lên đường chỉ may của quả bóng tròn để chống thấm nước. Trên sân bóng tròn, chúng tôi đâu có đá nổi trái “football”(bóng tròn). Chúng tôi bèn đem trái “volleyball” (bóng chuyền) ra sân cho vừa sức. Môn bóng chuyền thì không có đứa nào chơi được. Còn trên sân bóng rổ thì chúng tôi chơi bằng trái bóng tròn hoặc trái bóng chuyền. Các frère lại nói sân xi măng sẽ làm đứt đường chỉ may của bóng. Sau đó, chúng tôi tập dần với trái “basketball” (bóng rổ). Lúc đầu, bọn tôi đâu có ném nổi trái bóng rổ, chỉ nhồi bóng được thôi. Khi đến gần “tableau” (bảng rổ hứng bóng) chúng tôi phải dừng lại. Đứng dang hai chân ra, hai tay ôm quả bóng, chúng tôi lấy trớn từ giữa hai chân thảy lên rổ. Frère François tức cười, ngạo chúng tôi là “thảy đít”. Lên đến “secondaire” (trung học đệ nhất cấp) chúng tôi mới thật sự chơi bóng rổ đúng cách.    
 
Tôi bước tới, ngồi cạnh Minh Giả chỉ tay về phía nhà nguyện hỏi :
          
    -  Mầy thấy mặt tiền nhà nguyện mới thế nào ?
 
    -  Đẹp lắm. Giống dinh Độc lập. Còn mặt kia thì giống tòa Đại sứ Mỹ.
 
    -  Thì hồi đó mình đã thấy vậy rồi. Bây giờ nè, có ý tưởng gì mới không ?
 
Minh Giả quay qua nhìn tôi, rồi hướng mắt về nhà nguyện. Anh ta có vẻ như đang ngẫm nghĩ câu hỏi của tôi. Một lúc sau anh ta hớn hở nói :
 
    -  Tao vừa nghĩ ra điều này, không biết có trúng ý mầy không ?
 
    -  Thì mầy cứ nói thử coi.
 
    -  Thôi mầy nói trước đi.
 
Tôi mỉm cười nhìn nó, cố đọc lấy ý tưởng trong đầu nó. Văn Bé cắt ngang cuộc đấu trí của hai đứa tôi :
 
    -  Hai cha có ý gì hay thì nói cho anh em nghe luôn đi. Hai cha là dân kỳ cựu nhất ở Mossard này mà.
 
Tôi quàng vai Minh Giả thăm dò :
 
    -  Bây giờ tao nói trước cái ý của tao, nói mé mé thôi. Mầy cũng nói mé mé cái ý của mầy. Xem coi có điểm nào giống nhau không. Ý tao hỏi về cái mặt tiền nhà nguyện là có liên quan tới bài “Dĩ vãng” của Mạc Cùng Đường (Lê Phát Đạt) lớp mình đó.
 
Minh Giả gạt ngang :
 
    -  Bài của Mạc Cùng Đường viết dài thòng. Biết mầy muốn nói khúc nào ?
 
    - Thì đây, nói rõ hơn. Có liên quan đến cái cổng trường, hay bảng hiệu “khiêm tốn” như anh ta đã viết đó.
 
    -  Ý của tao liên quan đến huy hiệu của trường đó. Trúng ý mầy hông ?
 
    -  Ừ. Hay lắm. Giờ ngồi đây, nhìn xuống nhà nguyện thì đẹp thật, nhưng tao thấy hơi thiếu thiếu cái gì. Có vẻ như mặt tiền này hơi trống trải. Tao muốn đặt cái huy hiệu trường lên ngay ở giữa, hơi cao một chút. Mầy nghĩ sao ?
 
    -  Tao cũng nghĩ vậy. Nổi lắm mà cũng ý nghĩa lắm. Ngôi sao từ trên chiếu xuống tên trường. Tao nghĩ đến ngôi sao dẫn đường Ba Vua đó.
 
Văn Bé chen vào :
 
    -  Đã nói là khiêm tốn mà còn làm nổi cái nỗi gì !
 
Tôi giải thích rõ :
 
    -  Đặt cái huy hiệu trường lên đó chỉ làm nổi bật bên trong trường thôi chứ đâu có phô trương ra ngoài. Đúng vậy hông ?


Tất cả im lặng hướng mắt về phía nhà nguyện như muốn thực hiên ngay ý tưởng vừa nêu ra. Trời bắt đầu nắng gắt. Vệt nắng lan dần đến chỗ chúng tôi đang ngồi. Mặt sân xi măng dẫn hơi nóng đến chỗ chúng tôi ấm hĩm. Sân bóng cũ bong tróc hết nước sơn biên. Mặt sân nhám cào lộ ra nhiều cát. Nhiều vết nứt lớn xuất hiện từ lâu. Không hiểu do cách tráng xi măng ngày xưa kém hay do thời gian khiến nó già đi như người có tuổi, da nhăn nheo, nhám nhúa không còn mịn màng nữa. Ván tableau ở hai đầu sân lâu ngày không sơn phết xuống màu xám đen. Những tấm ván ghép hở ra nhìn thấu qua được. Rổ bóng chỉ còn trơ lại cái gọng sắt tròn. Một cây đố ngang của dàn ống sắt phía sân cây dầu bung mối hàn một bên đong đưa. Đây là dụng cụ xà đơn của các anh lớp lớn chơi môn volley (bóng chuyền) thỉnh thoảng đến tập thể dục. Không mấy học sinh đến đây chơi bóng. Sân bóng trước nhà nguyện vừa gần, vừa đẹp quyến rũ hơn nhiều. Chỉ có mấy người thích một chút yên tịnh mới tìm đến sân bóng cũ. Nơi đây có hai hàng cây dầu cao hai bên che bóng mát. Ngồi đây để ngắm ngôi trường uy nghi mà duyên dáng thì tuyệt.
 
Văn Bé đói bụng, bước ra chỗ đậu xe lấy vào mấy hộp bánh mì Hương Lan mua ở bưu điện Sài gòn. Chúng tôi dời qua hàng cây dầu phía đường dốc đất đỏ ngồi ăn trưa.
 
Bây giờ, cảnh cũ không còn (nguyên vẹn) mà người xưa thì đi tứ tán.