Chiếc đũa kỳ diệu của frère Albert


           
Ở Sài gòn, vào những năm 60 của thế kỷ trước, trên sân khấu xuất hiện một nghệ sĩ được tặng cho danh hiệu “quái kiệt”. Đó là tác giả bài hát “xổ số kiến thiết quốc gia” Trần Văn Trạch. Ở toàn cõi Việt Nam thời đó chỉ có ông là người có biệt tài độc diễn trên sân khấu. Trong khoảng mươi, mười lăm phút, ông xuất hiện trong phần “chuyển mục” của chương trình Đại nhạc hội hoặc xổ số kiến thiết cũng khiến khán giả ngẩn ngơ thích thú. Chỉ một mình trên sân khấu, ông có thể hóa thân thành nhiều nhân vật để độc diễn những đoản kịch tự biên. Từ những chuyện con gà, con vịt, con bò, con heo thường ngày, ông đưa lên sân khấu màn kịch ngắn dí dỏm mà rất ý nhị. Khán giả còn một phen cười bể bụng với câu chuyện cái “tô lô phôn” thời hiện đại (dĩ nhiên hiện đại vào thời điểm đó). Độc diễn trên sân khấu mà ông làm cho khán giả có cảm giác như được xem toàn ban hài kịch với đầy đủ các nam nữ “kịch sĩ”. Nét diễn của “quái kiệt” thật gần gũi, tự nhiên mà vô cùng duyên dáng.

            Gần đây, có một nghệ sĩ cũng được mang danh hiệu “quái kiệt” ở sân khấu hải ngoại. Nhưng xem ra “nghệ sĩ tính” còn lẫn “thương mại tính” nên đôi khi đi quá trớn lộ nét “vô duyên”, nhàm chán. Chỉ có một số khán giả bình dân thích xem để cười chơi. Lớp khán giả chọn lọc hơn thì không có được cảm giác sâu sắc.

            Các trường học cũng có sân khấu cho học sinh. Nơi đây sinh hoạt văn nghệ phải được tổ chức theo khuôn khổ giáo dục “Văn dĩ tải đạo”. Trường nội trú Lasan Mossard dạy theo chương trình Pháp. Tuy nhiên cái nếp trường vẫn theo lề lối truyền thống. Học sinh toàn là nam. Hơn thế nữa, không thấy bóng cô giáo trong trường. Cho đến người trong nhà bếp, phục vụ cũng toàn nam. Học sinh ngoại trú, sau giờ học về lại với gia đình có mẹ, có chị, có em. Họ cũng còn vui chơi với các bạn hàng xóm khác giới. Cuộc sống nội trú tưởng chừng như một thế giới toàn “đực rựa” (mà thật vậy đó).

            Trên sân khấu thì…

            Những đêm văn nghệ của trường luôn có các vở kịch dựa theo các tác phẩm văn học Pháp. Sân khấu phải theo kịch bản, mà kịch bản luôn có các vai diễn nữ. Nếu một vở kịch chỉ toàn nam diễn viên thì sẽ “chán phèo”. Hơn nữa, “nam hóa” một tác phẩm là một thách thức đối với các tác giả.

            Để chuẩn bị cho một vở kịch, frère Albert “tuyển lựa kịch sĩ”. Ai có được dáng người thon thả, da mặt hồng hào thì frère chọn đóng các vai nữ như tiểu thư, công chúa, cô tiên. Những học trò có nhiều nét nam tính (ý muốn nói là da mặt không mịn màng, không đẹp đẽ đó mà) thì được chọn vào các vai như… chúa quỉ, lũ quỉ con, v.v. Tôi là người có nhiều nét “nam tính” nên luôn được đóng vai quỉ. Khi đó, tôi mới học lớp 9è nên chỉ là một “quỉ con”. Hình như trong các vở kịch Pháp không thấy có “ông tiên” (chỉ có các ông Thánh). Do vậy mà nam “kịch sĩ” chỉ thủ các vai như vị thánh, hoàng tử, hoặc chúa quỉ mà thôi. Để hoàn thành đúng kịch bản frère phải dồn nhiều tâm huyết để tập dợt các diễn viên, nhất là các vai nữ. Các động tác, cử chỉ phải bộc lộ được nữ tính. Frère còn cố gắng luyện giọng cho từng người. Nữ diễn viên phải nói hoặc ca hát theo giọng “óc” (octave). Việc nén hơi đưa ra giọng “gió” được tập luyện rất công phu. Frère vẫn kiên nhẫn chỉ bảo cho đến khi thành công mới thôi. Đặc biệt, frère Albert còn phân đoạn vở kịch rồi tập riêng từng nhóm. Khi thì tập dợt nhóm này ở tầng “balcon” nhà nguyện, khi thì nhóm khác ở sân terrasse. Các buổi tập dợt được thu xếp sao cho ít gây trở ngại nhất đến việc học tập. Gần đến ngày lên sân khấu, frère mới tập họp lại để tổng dợt.

            Ngày lên sân khấu, tất cả các diễn viên tập hợp nơi phòng hóa trang. Phòng này nằm cặp theo phòng “infirmerie” của frère Albert, bên trên nhà bếp. Nơi đây để rất nhiều vật dụng hóa trang như đầu con sói, đầu con nai, con chồn, v.v. Trong tủ thì có đủ loại quần áo dành cho hoàng tử, công chúa, cô tiên. Trong góc thì dựng cây đinh ba, cây phất trần, đao to, cá chép bằng “các tông”, v.v. Trên vách có treo đôi cánh trắng của thiên thần. Các anh lớp lớn đã được hóa trang thành những cô tiên hay công chúa (không biết ai đã hóa trang cho họ). Các em nhỏ thì được các “cô tiên” đàn anh giúp đánh phấn thoa son thật dễ thương. Trang phục của các em rất đẹp, giống các nhân vật trong phim cổ điển của Tây phương. Bọn quỉ chúng tôi thì chỉ việc khoát lên bộ đồ quỉ màu “bordeaux” và chiếc mặt nạ bằng giấy (loại thường có bán ở chợ) trông cũng “quỉ” lắm.


Vở kịch tiếng Pháp do frère Albert dàn dựng khoảng năm 1965.

            Đến nay, đã hơn nửa thế kỷ, tôi không thể nhớ hết những vở kịch được chọn lên sân khấu. Tôi chỉ nhớ một vở kịch tôi đóng vai “quỉ con” cùng với khoảng chục “quỉ con” khác. Khi theo “quỉ chúa” ra sân khấu, chúng tôi phải đi đứng với bộ dạng nghinh ngang, hù dọa với bài hát “Ú… U… U… Ù… Tremblez… tremblez… partout…” Chỉ có một đọan ngắn này thôi mà frère Albert đã phải tập dợt cho chúng tôi cả buổi trời. Sau đó, chúng tôi chỉ việc khua tay múa chân trên sân khấu cho đến khi “cô tiên” phất chiếc đũa thần thì chúng tôi biến đi.

            Frère đã dùng chiếc đũa “kỳ diệu” để “hô biến” vở kịch trở nên hấp dẫn. Đã có không ít khán giả ngạc nhiên thích thú theo dõi vở kịch với đầy đủ “tiêu hành mỡ tỏi” trên sân khấu. Đó là những cô tiên, những công chúa duyên dáng, dễ thương trên một sân khấu toàn là “đực rựa”.

            Cũng trên sân khấu Lasan Mossard, một “phù thủy” khác cũng khiến nhiều người thán phục. Đó là frère Séverin, chỉ huy ban hợp xướng của trường. Để tổ chức được một ban hợp xướng, frère đã đến từng lớp, từ lớn đến nhỏ “tuyển lựa ca sĩ”. Học sinh nội trú chúng tôi hầu như ai cũng ca hát được, chỉ là hay hoặc không hay thôi (ý muốn tránh cái từ dở, “kỵ húy” đó, chúng tôi thường xuyên được tập hát cho những buổi lễ Mi sa mà). Các anh lớp lớn thì frère dễ thử giọng. Các em nhỏ thì frère cẩn thận cho thử xướng âm “đồ rê mi pha sol…”. Đứa nào có giọng trong trẻo thì qua được vòng “sơ khảo”. (Năm học lớp 7è tôi bị “bể tiếng” nên không được chọn vào ban hợp xướng). Sau đó, qua tập dợt, “phù thủy” lại chọn ra vài ba em có giọng “con gái” để tập luyện riêng. Cũng giống như frère Albert, “phù thủy” tập cho các em này hát giọng “óc” (octave). Các buổi tập thỉnh thoảng cũng được tách ra từng nhóm, theo từng giọng bè. Riêng các em hát “giọng nữ” được Frère chăm sóc rất kỹ. Có những đoạn frère phải nâng cây violon lên cằm kéo đi kéo lại đôi ba lượt rồi thử lại giọng của từng người. Sau cùng frère mới chọn được một giọng thích hợp với đoạn độc xướng. Vài ba ngày sau nữa mới cho ráp nối lại, thử một lần. Thời gian chuẩn bị lên sân khấu kéo dài hơn tháng trời.

            Dịp kỷ niêm “Đệ nhứt bách chu niên ngày thành lập các trường dòng Lasan” ban hợp xướng lên sân khấu trường Taberd. Tôi được chọn cùng với khoảng gần hai mươi học sinh đến Taberd dự buổi văn nghệ. Sáu mươi học sinh Mossard nghiêm chỉnh trong bộ đồng phục hiện ra trên sân khấu với bài “Hội Trùng dương” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

            Mở đầu, toàn ban thong thả gọi sóng từ biển khơi “Trùng dương… Chốn đây ngàn phương…”. Các giọng bè láy lần lượt tiếp hơi rồi chuyển sang nhịp rộn ràng đáp ứng “Có ba dòng sông cuốn xuôi biển đông… Về khơi…” như dòng nước lớn tuôn tràn về biển Đông.

            Tiếng nhạc sông Hồng êm êm kể lể “Chiều nay, nước xuôi… có em tên sông Hồng… Ngày qua trai gái sống chung…”. Toàn ban lại hùng hồn xướng lên “Nằm mơ xuân vinh quang… là ngày em mơ duyên người lập công…” .

            Đến đoạn vào miền Trung, một giọng nam xướng lên: “Miền Trung vọng tiếng…”. Một giọng nữ Huế tiếp hơi thỏ thẻ: “Em xinh em “bẹ..é..” tên là Hương Giang… Đêm đêm khua “ạnh” trăng vàng… Hò ơi… phiên Đông Ba… “cựa” chợ, “Bện” Vân Lâu… Ới hò… Quê hương em nghèo “lặm” ai ơi… Mùa đông “thiệu… i… áo” hè thời “thiệu… í… ăn”.

            Bước qua đoạn hành khúc, toàn ban xướng lên khúc nhạc với các bè cao, bè thấp, bè đuổi, v.v. “Hò ơi…hò… Ai (là) qua (là) thôn “vặng”, nghe sầu như mùa mưa (ừ) “nặng”…, Cùng em…” Dòng nhạc tuôn trào như những đợt sóng nhấp nhô, trùng trùng điệp điệp ào ạt vỗ bờ. Cả rạp hát rộ lên những tiếng trầm trồ thích thú. Chắc hẳn đã có không ít khán giả ngạc nhiên về một “cô gái Huế” nào đó đã len lõi vào ban hợp xướng toàn là nam. Riêng dân Taberd thì chắc họ đã biết rõ cái phép màu của các frère rồi.

            Qua vùng sông nước, một giọng hò miền Nam dẫn tới vùng đất Cửu Long “Hò ơi… Đây miền Nam…”. Ban hợp xướng lại vào nhịp tràn dâng như những cơn sóng mùa nước nổi. “Nước sông dâng… Nước xanh xanh…”. Giọng bè trầm lắng đệm theo như mang nặng phù sa bồi đắp cho bài hát thêm sức sống mới “Một sáng em ra khơi… Đời vương lên… sống no nê… nắng khô đồng lầy…” .

            Một giọng hò rặt miền nam như chào đón, hò hẹn cùng người lữ khách “Chẻ tre bện sáo cho dầy, băng qua sông Mỹ có ngày… ngày… gặp em”.

            Vào đoạn kết, các giọng bè đan nhau khắn khít “Ba chị em là…, gặp nhau…, hẹn nhau… Dựng mùa vinh quang hóa đời tự do…” .

            Để chấm dứt, ban hợp xướng trở lại đoạn mở đầu như để vươn ra biển khơi.

            Lúc êm dịu, lúc sôi động, lúc như thì thầm kể lể, bài hợp xướng đã thu hút đông đảo khán giả có mặt. Phần “độc xướng” xen kẽ gây được nhiều cảm xúc thú vị. Khán giả như vừa đi qua “con đường cái quan” suốt từ Bắc đến Trung vào Nam. 

Ban Hợp Ca Mossard "Hội Trùng Dương" - 1965

            Vào dịp Tết, Frère Séverin chọn bài “Ly rượu mừng” cũng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đưa lên sân khấu. Trong chiếc áo dòng đen, frère bước ra điều khiển dàn hợp xướng. Một điệu valse nhịp nhàng tươi tắn trỗi lên. Ban hợp xướng đưa hơi xuân đến với khán giả: “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…, Mừng anh chiến sĩ…, Người thương gia…, người công nhân… Thoát ly đời gian lao nghèo khó… Á… A… A…”. Đến đây thì các giọng bè trỗi lên phụ họa. Âm thanh trở nên rộn ràng như chào đón một mùa xuân mới. Các giọng bè đối đáp nhau, thúc giục hưởng ứng không khí nhộn nhịp đầm ấm. Rồi bài hát lại chuyển sang giọng ngọt ngào an ủi: “Kìa nơi xa xa, có bà mẹ già, từ lâu mong con…, đứa con về mừng nỗi yêu thương” thật cảm động. Đến đoạn: “Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương, xây tổ ấm…” giọng bè như đan quyện vào nhau trở nên nồng nàn thắm thiết làm xao động lòng khán giả. Rồi ban hợp xướng đổi sang hơi hân hoan chúc mừng “Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ, tiếng thi ca… đời mới”. Ban hợp xướng lại chuyển sang giọng nhắn nhủ chân tình, thiết tha với nguyện ước: “Chúc non sông hòa bình hòa bình. Ngày máu xương thôi…, ngày ấy quê hương…, đợi anh về trong chén tình đầy vơi”. Đoạn kết, toàn ban thong thả đưa giọng vút lên cao đầy hoan hỉ: “Ước mơ hạnh phúc nơi nơi…Hương thanh bình dâng phơi phới…”. Khán giả như vừa được nhấp, nhấp, nhấp… những “ly rượu nhạc xuân” nồng nàn đến ngất ngây.

            Qua năm sau, frère Albert chuyển về Taberd đem theo “chiếc đũa thần”. Rồi năm sau nữa, frère Séverin cũng được thuyên chuyển đi.

            Ngày nay, không biết có ai tiếp bước các frère dùng chiếc đũa kỳ diệu để biến cuộc sống thêm tươi trẻ và phong phú ?!


Ngô Quang Hòa

oOo

Đôi lời tâm sự:

Thưa các bạn,

Tôi xin gởi đến các bạn bài “Chiếc đũa kỳ diệu của frère Albert”. Trong bài này, tôi muốn nói về sân khấu của trường Mossard toàn là nam nhưng vẫn phong phú và đặc sắc như ngoài đời thường. Nhớ lại khi xưa, tôi say mê văn nghệ. Lúc không được tuyển vào ban hợp xướng, tôi rất buồn. Những khi frère Séverin tập dợt, tôi vẫn cứ đeo theo xem các bạn tập hát. Những buổi tập hát này ghi đậm dấu ấn trong tôi. Làm sao có thể quên được người nhạc trưởng tài ba ngày đó ?!

Tôi chưa từng được trực tiếp nghe ban Thăng Long biểu diễn bài “Hội Trùng Dương”, chỉ nghe qua băng nhựa thôi. Tuy nhiên, theo cảm nhận của tôi, ban hợp xướng của trường đã thể hiện bài hát phong phú và đặc sắc hơn. Các giọng hát được tập luyện phù hợp theo từng miền. Đây là điều mà ban Thăng Long đã chưa đạt được như ý.

Qua đến hai bài hát “Hội Trùng dương” và “Ly rượu mừng” thì có vẻ như cảm nhận của tôi về Ban Hợp Xướng của trường Mossard là đúng. Với những trang thiết bị hiện đại, các ca sĩ ngày nay đã thể hiện hai bài hát khá hay. Tuy nhiên, dòng âm thanh tổng thể vẫn còn hơi trống trải, đặc biệt với bài “Hội Trùng dương”. Nếu ngày xưa người Sài gòn thích Ban Thăng Long của phòng trà “Đêm màu hồng”, thích Ban “Tiếng Tơ Đồng” trên truyền hình, thì Mossard có quyền tự hào có được một ban hợp xướng rất qui mô (đặc biệt là không chuyên nghiệp nhưng vẫn xứng tầm chuyên nghiệp).

Đến bây giờ, tôi luôn nhớ frère Séverin, người nhạc trưởng trẻ tài ba ngày ấy. 

Sau đây là hai tấm ảnh kỷ niệm của tôi xin được chia sẻ cùng các bạn:

 
Hình 1. Ba cùng bốn anh chị em Ngô Quang Hòa. Hòa bìa trái, anh hai Quang Minh bìa phải, chị và em gái ở giữa. Hình chụp một năm sau khi vào trường Lasan Mossard.
 
Hình 2. Ngô Quang Hòa một năm trước khi
vào trường Lasan Mossard.