Thời thơ ấu


THỜI THƠ ẤU
 
( trích từ hồi ký NGÀY VÀNG NHƯ VẪN… )
 
Quê nội tôi nằm tại trung tâm một chợ quận. Quê ngoại thì ở cách đó khoảng ba bốn cây số ngàn. Sống trong một gia đình đông con nên ba tôi đã sớm nghỉ học. Ông đi tìm việc ở nhiều nơi để kiếm tiền phụ giúp ông nội tôi. Ông đã từng làm cho một tiệm thuốc Bắc, rồi một tiệm sửa chữa đồng hồ, rồi tiệm cầm đồ bình dân. Cuối cùng, ông học nghề may và mở một hiệu may tại chợ quận.
 
Trong những năm 1945 - 1954, tình hình xã hội ở cả nước có nhiều biến động. Miền Tây có nhiều vụ cướp bóc, bắt cóc tống tiền, thanh toán giết chóc diễn ra khiến lòng người hoang mang điên đảo. Những vùng quê hẻo lánh phải sống trong cảnh phập phồng lo sợ. Mẹ tôi và các dì tôi nổi tiếng là những hoa khôi nơi quê nhà. Mẹ tôi cũng phải rời quê lên chợ quận tạm lánh cho an toàn. Mẹ tôi được người cô ruột bảo bọc suốt một thời gian dài. Người em trai họ của mẹ tôi cũng là bạn của ba tôi.
 
Ngay lần đầu gặp mặt mẹ tôi, ba tôi đã phải lòng. Tuy nhiên, ba tôi giữ kín tình cảm của ông trong lòng nên không ai biết được mối tình này kể cả mẹ tôi.
 
Đùng một cái, ông nội tôi quyết định cưới vợ cho ba tôi. Gia đình sui gia ở tận trên Châu Đốc. Ba tôi miễn cưỡng thuận ý gia đình mà không tỏ ra một tí gì bất mãn. Đám cưới diễn ra suông sẻ. Mọi người tin tưởng sẽ có một tương lai hạnh phúc.
 
Sau đám cưới khoảng một hai tháng, cuộc sống của hai ông bà có vẻ bình thường, êm ấm. Vào một buổi tối, người vợ đầu tiên của ba tôi đến gặp ông bà nội tôi tâm sự :
 
      -  Thưa ba má, từ hôm đám cưới tới nay, anh Tư (tức ba tôi đó) chưa bao giờ ngủ với con.
 
Bà nội tôi hốt hoảng kêu lên :
 
      -  Tròi đất ! Sao vậy ? Hai đứa có cãi vã gì với nhau không ?
 
      -  Dạ ! Không có gì. Tự nhiên ảnh không muốn ngủ với con.
 
      -  Vậy chứ nó ngủ ở đâu ?
 
      -  Dạ ảnh chun vô mùng mấy đứa cháu, nằm dưới chân chúng.
 
Ngày hôm sau, ông bà nội gọi ba tôi đến hỏi riêng về sự việc lạ lùng này. Ba tôi chỉ một mực trả lời rằng chưa muốn cưới vợ và vẫn giữ kín việc phải lòng mẹ tôi. Ông bà nội tôi gạn hỏi mãi mà ba tôi vẫn không mở thêm lời nào. Cuối cùng, ông bà nội tôi an ủi con dâu:
 
      -  Việc đã như thế này cũng chẳng biết phải làm sao ! Thôi thì ba má sẽ đưa con về nhà, tạ lỗi cùng ba má con vì đã làm lỡ duyên con. Sau này, nếu có chồng khác, ba má sẽ đền bù xứng đáng cho con. Dù sao hai đứa cũng chưa từng chung chăn gối mà.
 
Ít ngày sau, ông bà nội tôi đưa con dâu về nhà sui gia và cố gắng giải quyết êm thấm với gia đình họ.
 
Cô của mẹ tôi có một kệ bán vải tại nhà lồng chợ quận. Hàng ngày phải dọn hàng mỗi sáng, mỗi chiều lại đem hàng về nhà. Cậu họ tôi phụ lo việc dọn dẹp. Ba tôi thường đến tiếp một tay với cậu họ tôi. Tuyệt nhiên, ba tôi vẫn không đá động gì đến mẹ tôi. Thỉnh thoảng ba tôi và cậu nói chuyện vợ con. Cậu tôi bảo :
 
      -  Thôi thì mầy cưới chị tao đi chứ kén chọn làm gì nữa !
 
      -   ….
 
Ba tôi vẫn lặng thinh nhưng trong lòng đã thấy “cửa mở”. Cuối cùng, ba tôi đánh tiếng hỏi mẹ tôi thông qua cậu họ tôi. Khi mẹ tôi biết việc này thì lắc đầu giãy nãy dẫy nẩy:
 
      -  Ổng có vợ rồi còn cưới hỏi gì nữa !
 
      -  Nó cưới người ta chứ nó chưa ở với người ta ngày nào hết. Nó thương chị thật lòng mà không dám nói đó thôi.
 
Mẹ tôi chưng hửng mở to mắt nửa tin nửa ngờ. Ba tôi được mở lối để tiếp xúc, tâm sự cùng mẹ tôi. Ông bà nội liền vui mừng đến nhà ngoại tôi xin hỏi cưới. Đám cưới lại diễn ra. Ba mẹ tôi chung sống, đầu lòng là anh hai tôi. Bốn anh chị em chúng tôi lần lượt ra đời : xen kẽ hai trai hai gái.
 
Từ khi về với ba tôi, mẹ tôi luôn tỏ ra là một người vợ đảm đang. Việc nội trợ mẹ tôi luôn được bà nội khen hết lời. Mẹ tôi còn sát cánh với ba tôi giúp hiệu may ngày càng phát triển. Hằng ngày, mẹ tôi lo làm khuy, đơm nút các quần áo của tiệm may. Sau khi sanh anh hai tôi, công việc bận rộn hơn nhưng mẹ tôi vẫn tiếp tục chu toàn mọi việc.
 
Gia đình lúc này còn có chú Tám. Chú Tám trẻ người thường đi chơi. Chú là tay chơi “bi da” có tiếng ở chợ quận. Vào cuộc chơi, chú đứng quan sát kỹ vị trí ba trái bi trên bàn. Sau đó, chú khom lưng đặt cơ xuống đánh ngay, không nhắm tới nhắm lui gì nữa. Mọi người ai cũng nể tay cơ của chú. Tuy nhiên, khi thấy việc nhà “đăng đăng đê đê”, chú cố thu xếp việc chơi bi da để giúp chị dâu mình một tay. Mẹ tôi kể lại, có hôm chú đi chơi tới khuya. Về đến nhà thấy đống quần áo trên bộ ngựa, chú liền xỏ chỉ bấm khuy, đơm nút chỉ một thoáng là xong hết. Chú đã đỡ đần cho mẹ tôi rất nhiều. Mẹ tôi nói bàn tay của chú làm khuy khéo và nhanh nhất ở chợ. Thỉnh thoảng chú bị bà nội tôi đánh đòn vì tội mải mê đi chơi. Mẹ tôi cũng mũi lòng nhưng phận làm dâu, không dám chen vào can gián. Sau này, chú cưới vợ rồi mở tiệm cà phê và bán phở.
 
Khi tôi được khoảng năm sáu tuổi thì người cô ruột bận làm ăn xa nên gởi cho ba tôi một người con gái. Theo vai vế thì tôi là anh. Theo tuổi tác thì cô ta lớn hơn tôi tới chín tuổi. Do vậy, tôi vẫn gọi cô ta bằng chị, chị Yến. Chị Yến được ba mẹ tôi làm giấy khai sanh và sống chung với chúng tôi như anh chị em ruột. Đặc biệt, ba tôi rất thương chị Yến vì cô tôi (mẹ của chị) đã từng gắn bó với tiệm may của ba. Chị cũng được cho ăn học như anh em chúng tôi. Riêng mẹ tôi dặn chị phải trông chừng tôi. Ngoài mẹ tôi ra, chị là người phụ nữ đã tạo một cảm xúc sâu đậm trong thời thơ ấu của tôi.
 
Mới có năm sáu tuổi mà tôi đã được xếp vào hàng “lưu linh lưu địa” (tiếng rầy mắng của mẹ tôi). Tôi thường xuyên trốn nhà đi chơi quên cả cơm nước. Buổi trưa, sau bữa cơm, chị Yến phải đong đưa võng dỗ tôi ngủ. Chị Yến thường kể chuyện đời xưa để đưa tôi vào giấc ngủ. Câu chuyện dài nhất, chị đã kể nhiều buổi trưa mới hết là chuyện “Tấm Cám”. Chị lồng ghép những chi tiết của truyện “Cô bé Lọ Lem” vào chuyện kể một cách rất khéo léo. Giấc ngủ của tôi cũng có nhiều mộng đẹp.
 
Mỗi khi chị đi chơi với các bạn thì thường dẫn tôi theo. Do vậy mà tôi biết nhiều trò chơi của các chị. Khi thì chị chơi búng hột ô môi, khi thì chơi đánh chuyền chuyền. Tôi thích xem chị chơi chuyền chuyền vì chị rất nhanh tay, lẹ mắt. Một buổi chiều, sau giờ cơm, chị dắt tôi đi chơi. Gặp các bạn chị rủ chơi đánh chuyền, cả nhóm đi vào nhà lồng chợ. Nơi đây, các sạp vải nghỉ bán vào cuối ngày, bỏ trống, nên rất thuận lợi. Các chị ngồi lên sạp và tôi cũng trèo lên theo. Ngồi cạnh chị một lúc, tôi bắt đầu lăng xăng. Tôi xoay trở thế nào không biết, bất ngờ té xuống đất. Chị buông bó đũa đang chơi lật đật bước xuống đỡ tôi dậy. Lúc đó, tôi ôm cánh tay đau nhói. Chị bồng tôi lên sạp, sờ nắn cánh tay thì tôi kêu đau. Chị bỏ cuộc chơi, bồng tôi chạy về nhà. Mẹ tôi bước ra trách chị ham chơi không coi chừng em. Đến tối, cánh tay tôi sưng vù, nhức nhối. Mẹ và chị kêu xe lôi đạp đưa tôi lên nhà ông thầy Tám Vi để sửa tay và bó thuốc Nam. Mấy ngày liền sau đó, chị không đi chơi đâu cả mà cứ ở nhà hỏi tôi còn đau nhiều ít.
 
Một hôm, có lẽ vì đêm trước thức khuya học bài nên chị thiếp đi trước khi tôi ngủ. Tôi rón rén bước khỏi võng, nhẹ nhàng rời khỏi nhà để đi rong. Thật lâu sau, chị tìm gặp tôi nơi dãy ba căn bỏ hoang sau nhà. Chị tỏ ra lo lắng và hờn mát :
 
      -  Sao cưng trốn đi chơi hoài vậy ?! Mẹ tìm ở nhà đó. Coi chừng bị đòn à.
 
Tôi ngoan ngoãn nắm tay chị về nhà. Vừa đến bên chiếc võng thì thấy mẹ tôi mặt hầm hầm đứng sẵn đó. Mẹ tôi bước tới chụp lấy tay tôi rồi với lấy cây chổi lông gà trên kệ. Bước đến bên võng mẹ tôi lắc lắc cây chổi :
 
      -  Nãy giờ đi đâu ? Sao không chịu ngủ ?
 
Chị Yến chen vào :
 
      -  Xin lỗi mẹ đi cưng hông thôi bị đòn đó.
 
      -  Dạ … Con hổng dám vậy nữa !
 
      -  Hổng dám ! Hổng dám ! Bao nhiêu lần hổng dám rồi !
 
Mẹ tôi tức giận vung ngọn roi lên nhắm vào mông tôi. Bất ngờ, chị Yến chồm tới ôm lấy tôi. Sẵn đà, ngọn roi quất xuống trúng đùi chị nghe một “cái chát”. Chị không xoa chỗ đau mà chỉ cố phân trần với mẹ tôi :
 
      -  Mợ ơi, đừng đánh em ! Để con dỗ em ngủ.
 
Mẹ tôi đứng sững người một lúc, thở dài rồi bỏ đi. Chị Yến đưa tay áo quẹt đôi mắt đỏ hoe :
 
      -  Lên võng đi cưng. Chị đưa cho ngủ không thôi bị đòn nữa đó.
 
Sau một hồi chết điếng, tôi hoàn hồn nhìn chị buồn bã mà không biết phải làm sao để an ủi chị. Chị tiếp tục đưa tôi tòn teng và tôi đi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Hôm sau, mẹ tôi làm món bí hầm dừa, món ưa thích nhất của chị.
 
Ba tôi đưa tôi đi học vỡ lòng nơi ông giáo già và cũng là thầy của ba tôi hồi trước. Lớp học rất đông gồm nhiều học sinh từ các lớp tập đánh vần đến các lớp năm, tư, ba, nhì, nhất. Có một ít học sinh được thầy kèm thi Đệ Thất và thi Trung học đệ nhất cấp. Trường lớp của thầy rộng lớn chứa gần trăm học sinh. Theo ba tôi và nhiều người đánh giá thầy là một ông giáo tuyệt vời. Những trò nhỏ tập viết mà không mua được giấy tập  hàng đôi, thầy có thể kẻ hàng trang tập viết trong tíc tắc. Thầy còn đọc chính tả cho ba lớp cùng viết mà không lẫn lộn một chữ nào. Thầy cũng vừa chấm bài tập, vừa nghe trả bài. Em nào trả bài sai thì lập tức thầy bảo ngưng lại và nhắc lớp. Thỉnh thoảng, tôi cũng trốn được ra ngoài sân chơi đùa. Học sinh đông quá nên thầy không kiểm soát hết. Khi ngoài sân ồn ào quá thì thầy mới cầm cây roi mây rất dài bước ra sân. Bọn trẻ ngoài sân vội vàng mạnh đứa nào đứa nấy tìm đường vào lớp.
 
Thầy nổi tiếng vì đã từng là thầy dạy cho ba đời một số gia đình ở chợ quận. Trong lớp, thầy có những phần thưởng dành cho những học sinh giỏi. Đầu tiên là những viên phấn trắng. Khá hơn là tờ giấy chậm mực. Giỏi nữa thì thầy thưởng một quyển tập 50 hoặc 100 trang. Thầy khen tôi thông minh, học giỏi trước mặt ba tôi. Vài lần, tôi cũng được thầy thưởng một quyển tập. Tuy phần thưởng không đáng giá nhưng chúng tôi rất hãnh diện và được khích lệ rất nhiều. Ngày nay, nhiều học sinh nhận được phần thưởng vài chục quyển tập, nhưng xem ra chúng chỉ tỏ cảm xúc thua một quyển tập ngày trước. Đến kỳ tựu “trường nhà nước”, ba tôi đưa tôi vào học lớp Tư chung với người anh họ lớn hơn tôi một tuổi. Đó là năm học cuối cùng ở lớp tiểu học nơi quê nhà.
 
Mỗi năm tôi được về quê ngoại trong các dịp lễ giỗ. Mẹ tôi trước đó đã về quê để phụ giúp việc nấu nướng. Chị Yến là người sẽ dẫn tôi về quê đúng ngày giỗ. Từ chợ quận, hai chị em tôi lên xe lôi đạp đi khoảng hai cây số theo đường liên tỉnh lộ. Đến ngả ba thì rẽ vào đường dẫn đến nhà ngoại tôi.
 
Con đường này rộng gần bằng đường tỉnh lộ nhưng không được tráng nhựa. Tuy nhiên, con đường được lát bằng gạch thẻ thời xưa đúng chuẩn 5x10x20 cm. Các viên gạch được xếp đứng theo chiều dài. Viên này kề viên kia vừa lọt một ngón tay. Các kẽ hở được trám một lớp “joint” tự nhiên bằng hỗn hợp bùn trộn cát, có pha mật đường. Điều đáng nói là con lộ này kéo dài từ đầu đường cái đến gần nhà ngoại tôi (khoảng hai cây số). Theo lời mẹ tôi kể lại thì khi xưa (chẳng nhớ năm nào) ông Cả, ông Cai và ông ngoại tôi cùng hùn vốn để xây một lò gạch. Số gạch làm ra không phải để bán mà để cất ba cái nhà cho ba gia đình trên. Khi ba nhà đã xây hoàn tất, lò gạch vẫn còn tiếp tục sản xuất. Ông Cả đứng ra thương lượng phần bao chót. Bà Cả dùng số gạch sau cùng này để lát con đường nói trên. Nhà Bà Cả có một chiếc xe ngựa. Việc đi chợ quận được dễ dàng hơn. Từ đó, con đường chính thức mang tên lộ Bà Cả.
 
Dọc theo hai bên lộ là hai hàng xoài. Sau khi trổ bông, những cây xoài treo lơ lửng những chùm trái non xanh mướt. Để quên đi quãng đường dài trước mặt, chị tôi rủ thi nhau đếm số gạch dưới chân. Tôi ngây thơ đếm từng viên gạch từ hàng này đến hàng kế tiếp. Qua một đoạn khá dài, chị kéo tôi ngồi xuống bóng cây xoài mát rượi bên đường. Chị lại bày ra trò chơi trong lúc nghỉ chân. Chị dạy tôi dùng cọng cỏ để chơi đá gà. Chị lại vẽ hình vuông có hai đường chéo trên đất chơi “cờ chó”. Đá gà thì chị thường thắng tôi vì tôi chưa đủ sức để quật ngã “gà” đối phương. “Cờ chó” thì sau năm ba bàn tôi đã tìm được thế khóa bước đi của chị.
 
Nghỉ chơi, chị quay ra ngắm cảnh ruộng đồng xung quanh. Bỗng chị chỉ hai ngôi mộ bên đường kể :
 
      -  Hai ngôi mộ này là của hai anh em ruột bị trời đánh đó.
 
Tôi lơ đễnh nhìn theo hướng tay chị. Chị lại tiếp :
 
      - Hai anh em cùng gặt lúa trên đồng. Lúc đó cũng có nhiều người làm chung. Hai anh em, một người ở đầu bờ này, người ở đầu kia. Trời đánh người anh rồi tia chớp xẹt tới trúng người em. Những người khác trên đồng thì không sao hết. Người ta nói hai người này ngỗ ngược, bất hiếu với cha mẹ nên bị trị tội.
 
Vào đến nhà ngoại, tôi chạy tìm bà ngay. Tôi ôm cổ hôn bà thật lâu. Những năm trước đây, khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi dẫn tôi về quê cúng giỗ. Công việc nấu nướng cúng giỗ khiến mẹ bận rộn đến thật khuya. Đêm đến, ngoại tôi đưa tôi vào giường và dỗ ngủ. Hơi ấm ngày đó như vẫn còn vương vấn trong tôi.
 
Phía sau nhà ngoại là khu vườn đủ loại cây ăn trái. Trước mặt là con rạch lượn lờ quanh co. Tôi lại chạy đi khắp nơi trong vườn nhà. Chị Yến phải lăng xăng theo tôi sợ tôi rớt xuống sông. Các anh họ ngoại vồn vã đón chị em tôi. Các anh họ lớn hơn chị tôi vài tuổi. Họ bắt chuyện vui cười cùng chị Yến. Dĩ nhiên là tôi được ưu tiên nhận nhiều trái cây do họ hái. Họ thường đố chị tôi về các vật dụng sinh hoạt ở quê. Chị tôi không thể biết hết những điều này. Thế là họ trêu đùa chị tôi là “potiron” (bí rợ) tức là “bí thù lù”. Về những câu hỏi liên quan tới bài học thì chị tôi luôn trả lời suông sẻ.
 
Ngày tháng lặng lẽ trôi. Những biến động trong nước xảy ra ngày một nhiều. Gia đình bà Cả lần lượt di dân qua Pháp sống. Con “lộ Bà Cả” không người chăm sóc, chẳng tu bổ, ngày một đìu hiu. Qua nhiều mùa nước nổi, lộ ngập, gạch bong ra nham nhở. Người dân vô ý thức “hôi” gạch về xây sửa nhà trên, nhà dưới, nhà bếp, v.v. Sau ngày thống nhất, các tập đoàn nông nghiệp ra đời. Con đường này từng ngày bị thu hẹp lại để lấy đất sản xuất. Con đường lát gạch có một không hai này dần dần biến mất.
 
Khoảng năm 2005, một phóng viên tìm đến đây hỏi thăm về con “lộ Bà Cả”. Dân địa phương dắt anh ta đến trước nhà Bà Cả, chỉ cho coi một khoảng nhỏ còn sót lại trước cổng nhà. Những viên gạch còn nguyên màu đỏ thách thức với thời gian.
 
Quê ngoại với những vườn cây trái rộng lớn, sông rạch mát mẻ, đã khiến tôi nhiều lần bị đòn và phải hứa “không dám vậy nữa”.
 
Trở về chợ quận, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ về quê ngoại. Thế là tôi tự động tìm đường đi. Ngay chợ quận có một cây cầu bắt qua con rạch lớn. Cầu sắt, cao lêu nghêu xây dựng từ thời Pháp. Mặt cầu lót ván to, dày. Mùa khô, ván co lại để lộ ra những kẽ hở vừa đủ lọt chân các em bé. Theo nhịp xe chạy, lớp ván run lên, mặt cầu thì đong đưa. Mặt cầu hẹp, vừa đủ cho một chiếc xe “bộ hiền” chạy qua nên ở giữa cầu, người ta đặt một chốt gác. Một cây sào nhô lên trên nóc chốt gác. Đầu sào gắn một tấm bảng tròn sơn hai màu trắng và đỏ ở hai mặt. Màu đỏ quay về bên nào thì bên đó phải nhường đường cho mặt trắng. Trên cầu còn có những “bùng binh” de ra ngoài để người đi bộ nép vào tránh xe hơi. Ngay đầu cầu, người ta xây mang cá bằng đá xanh cao bốn năm thước nối liền với con dốc dài dẫn lên cầu. Cạnh mang cá có các bậc thang đi xuống chợ. Một hôm, tôi lại lén tìm đường về ngoại. Muốn về quê ngoại phải đi qua cây cầu này. Chẳng may là hôm đó ba tôi có mặt ở nhà. Sau một lúc dáo dác đi tìm, chị tôi luôn là người tìm ra tôi trước tiên : cũng ngay ở dốc cầu. Về đến nhà, gặp mặt ba tôi là tôi xanh mặt ngay. Cũng cây chổi lông gà trên tay ba tôi bắt tôi cúi xuống giường. Khi ba tôi trị đòn roi thì thẳng tay. Cả nhà không ai dám can ngăn. Mẹ tôi cũng dùng đòn roi nhưng thường là “giơ cao đánh khẽ”. Nhận ba roi rồi, tôi lại xin lỗi ba “không dám vậy nữa”. Tôi vò mông khóc thút thít không dứt. Chị Yến đưa tôi đi rửa mặt. Sau đó, mẹ tôi lấy dầu cù là xức các vết roi và liên tục nói “chừa chưa”.
 
Một lúc sau, mẹ lại thì thầm vừa đủ cho ba tôi còn ngồi gần đó nghe :
 
      - Biết nói sao giờ. Thằng nhỏ tuổi ngọ, lại sanh vào lúc bốn năm giờ sáng. Rồi đây ai mà kềm chân nó nổi.
                      
Có lẽ ba tôi cũng mủi lòng và giải pháp tốt nhất là đưa tôi vào học ở trường nội trú mãi tận Thủ-Đức.
 
Sau này, khi tôi đã hơn mười tuổi, có lần mẹ tôi kể về tôi với các bà bạn :
          
      - Thằng này nó cứng đầu ngay từ khi còn trong bụng mẹ nó. Mấy bà có biết, khi tôi mang thai nó tôi rất lo lắng. Việc nhà việc cửa “đăng đăng đê đê”. Nó với chị nó sanh năm một. Mấy chị bạn lúc đó chỉ tôi uống “Ô kim”. Tôi uống cả chục chai mà nó cứ trơ trơ trong bụng. Đến khi đủ ngày đủ tháng, tôi vừa đến bệnh viện, nó nhào ra cái độp không phải đau hay rặn gì cả.
 
Đi Sài Gòn thường xuyên, ba tôi được các bạn nơi thành phố giới thiệu một ngôi trường nội trú ở Thủ Đức. Ông quyết định cho thằng con trai vừa mới bảy tuổi đến đó theo học chương trình Pháp.
 
Khoảng một tháng sau, Ba bảo chị Yến đưa tôi đi học thêm Pháp văn mỗi buổi tối. Thầy giáo ở gần nhà và thân thiết với gia đình tôi. Chị Yến ngồi bên tôi suốt buổi học để nhắc tôi đừng “lo ra”. Thầy Trần Kim Suối cho ba tôi biết việc học của tôi rất tiến bộ. Tôi không biết thầy đã tốt nghiệp trình độ nào nhưng rất nhiều người kính trọng thầy.
 
Khi chuẩn bị chương trình “Điện nông thôn”, phía Mỹ cần có một bản vẽ mạng lưới đường dây phân phối. Công ty điện lực Việt Nam (CEE) có đưa ra một số bản vẽ nhưng không khả thi về đường dây. Chương trình do đó có thể bị tạm hủy hoặc dừng lại.  Được tin, thầy Trần Kim Suối lo sợ, lập tức nghiên cứu và đề ra một bản vẽ trình lên chính phủ. Sau khi xem xét, chính phủ Việt Nam và phía Mỹ chấp thuận bản vẽ của thầy Suối với mạng lưới đường dây gọn nhẹ, ít tốn kém nhất. Thế là chương trình “Điện nông thôn” đã đến được với người dân quê tôi. Trụ sở “Điện nông thôn” đặt ở gần bến bắc Vàm Cống. Sau đó, thầy Suối còn được đưa về làm việc trong ban quản trị của chương trình này. Rồi thầy còn được nhận về Công ty Điện lực Việt Nam ở Sài gòn.
 
Chính năm này, tôi bắt đầu nhận ra chị tôi đã bước sang tuổi thiếu nữ, và rất đẹp. Khi chị đưa tôi đi chơi ngoài phố hay đi học thêm, tôi thấy nhiều thanh niên ngắm chị tôi và trầm trồ khen chị.
 
Hè đến, tôi chuẩn bị thi vào trường nội trú. Cô tôi ở Sài gòn, cẩn thận dặn ba tôi đưa tôi lên trước ngày thi một tuần. Tại Sài gòn, cô tôi kèm thêm chính tả. Cô tôi dặn phải chú ý giọng người Bắc đọc chính tả có đôi chút khác người Nam (thí dụ người Bắc đọc dấu phẩy chứ không đọc dấu phết). Về chữ viết thì tôi phải chép nhiều trang giấy mỗi ngày bằng nét chữ to (chữ viết của tôi khi đó thật sự không đẹp tí nào).
 
Cuối cùng, ngày thi đã đến.
 
Chuyến đi thi ở trường Lasan Mossard Thủ Đức là chuyến đi xa đầu tiên trong đời của tôi. Khi đến trước cổng trường, tôi hoàn toàn bất ngờ. Tôi thật sự choáng ngợp trước một ngôi trường to và đẹp mà tôi chưa từng thấy. Bước vào sân trường, không khí nhộn nhịp lôi cuốn tôi. Rất đông đảo phụ huynh đưa con em đến trường. Sau một hồi chuông điện, thí sinh lần lượt vào phòng thi. Bài thi gồm một bài dictée và bốn bài toán cộng, trừ, nhân, chia. Các bài thi cũng vừa đúng trình độ của tôi nên tôi đã viết bài dictée và trả lời các câu hỏi không chút khó khăn.
 
Sau chuyến đi thi, tôi trở về quê và tiếp tục vui chơi, quên luôn việc sẽ bị “tống” vào trường nội trú. Cho đến một hôm, tôi trốn giờ ngủ trưa đi chơi thì người nhà dáo dác đi tìm và gọi về. Cũng chính chị Yến là người tìm ra tôi trước tiên. Chị hối thúc tôi chạy về và nói ba mẹ tôi đang đợi. Bước vào nhà, tôi thấy ba mẹ tôi đang nói về việc đi học của tôi. Thế là tôi đã thi đậu vào trường Lasan Mossard. Ba tôi đang dặn mẹ tôi chuẩn bị các thứ cần thiết theo giấy hướng dẫn của trường kèm theo giấy báo trúng tuyển vào lớp 10è  (lớp 2 chương trình Việt hiện nay) trường Lasan Mossard Thủ Đức:
 
      -  Mền, gối, vải trải giường (couvre lit)
 
      -  2 bộ đồng phục gồm quần short và áo chemise trắng ngắn tay, giày trắng.
 
      -  4 bộ quần áo đi học (không cần đồng phục)
 
      -  2 bộ pyjama.
 
      -  2 khăn tắm, xà bông và kem đánh răng, v.v.
 
Mẹ tôi vội vã may quần áo. Chị Yến giúp mẹ tôi đơm khuy nút. Tôi cứ lẩn quẩn theo mẹ và chị. Thỉnh thoảng chị tôi ngừng tay âu yếm nói :
 
      -  Cưng của chị giỏi quá.
 
Vài ngày sau, mẹ tôi lấy chiếc va li nhỏ bằng da của ngày xuất giá ra. Mẹ thừ người, ngắm nghía món vật thân thương kỷ niệm. Rồi mẹ cẩn thận lau chùi, xem xét lại các dây gài, khóa rồi xếp quần áo, đồ dùng cần thiết vào.
 
Vào một buổi rạng sáng, ba mẹ đưa tôi đi nhập học. Lần đầu tiên tôi được uống ly cà phê sữa và ăn một cái bánh bao tại bến xe chợ quận. Chị Yến theo tôi căn dặn đủ điều. Thỉnh thoảng chị sửa lại cái bâu, cái nút áo. Khi xe bắt đầu chuyển bánh, chị còn nói với theo “rán học giỏi nhe cưng, chị nhớ cưng lắm. Chị chờ nghe”.
 
Trên đoạn đường dài từ quê lên Sài gòn, tôi hớn hở, lăng xăng trong lòng mẹ tôi rồi chuyển qua ba tôi. Ngồi trong lòng mẹ, thỉnh thoảng tôi với tay ôm cổ hôn mẹ tôi nhiều lần cho tới lúc xe cập bến chợ An Đông ở Sài gòn mới thôi. Khi về quê, nhiều bà con lối xóm đến hỏi thăm, mẹ tôi vui vẻ kể lại chuyến đi. Bà hơi bẽn lẽn, cố giấu niềm hãnh diện :
 
      -  Thằng nhỏ, thiệt… là tình ! Mấy bà coi ! Lớn tòng ngòng rồi mà ngồi trên xe cứ len lén chồm lên “hun” mình một cái “chụt”. Khách “bộ hiền” trên xe cứ nhìn mình tủm tỉm cười làm mình mắc cỡ muốn chết.
 
 Bất chợt, bà ngưng lại, quay mặt đi như muốn giấu đôi mắt hơi ngấn lệ. Quay lại, bà vội lãng sang chuyện khác :
 
      -  Mèn ơi ! Mấy bà biết hông, vừa bước qua cổng trường tôi hông thể tưởng tượng nó “bự” như ổng (ba tôi) đã kể. Gấp mười lần cái nhà của ông hội đồng Tú đó. Khi vào bên trong thì ôi thôi, nó mênh mông.
 
Đến Sài gòn, chúng tôi ngủ lại một đêm tại nhà cô tôi đang là công chức ở Sài gòn. Đêm đó, ba mẹ tôi đưa tôi đi chợ Bến Thành để mua thêm một ít vật dụng cần thiết: bàn chải đánh răng, kem hiệu Perlon neige và đôi giày Bata trắng tinh.





Sau một năm học nội trú, về nghỉ hè, tôi hăm hở sẽ kể chuyện Sài Gòn cho chị tôi nghe. Về đến nhà, tôi chạy tìm khắp nơi không thấy chị. Tiu nghỉu, tôi lững thững đến bên võng, chiếc võng thân thương. Mẹ tôi nhìn thấy, bước lại gần thủ thỉ :
 
      -  Chị Yến đi rồi… Thôi, con tắm rửa thay quần áo đi.
 
Tôi giương to đôi mắt ngạc nhiên nhìn mẹ, hụt hẫng.
 
Mẹ tôi giải thích rằng, sau khi công việc làm ăn ổn định, cô Năm tôi đã quay về đón chị Yến đi. Mẹ cũng kể lại ba mẹ tôi và chị đã khóc rất nhiều trong ngày chia tay đó. Cô Năm của tôi cũng mủi lòng. Hơn nửa thế kỷ rồi, tuy ở rất xa, cả nửa vòng trái đất nhưng cô tôi vẫn thường liên lạc thăm hỏi ba mẹ tôi. Có lẽ chị Yến đã kể nhiều chuyện ở nhà tôi cho cô tôi nghe. Chị đã chia tay tôi không lời từ giã.