Mossard lớn lên từng ngày


Từ khi bước chân vào trường nội trú Lasan Mossard, mỗi lần về quê tôi rất hãnh diện trong bộ đồng phục quần sọoc và áo sơ mi trắng. Đôi giày bata luôn được tôi giữ sạch trắng tinh.

Năm đầu tiên tôi được ngủ ở lầu hai dãy mặt tiền nhìn thẳng ra cổng trường. Lớp học thì lại là một căn nhà cổ, hết sức cổ. Đó là căn nhà nằm ngay quầy “pâtisserie” của dãy lầu mới gần sân banh.

Dãy nhà xưa làm lớp học của section primaire I

Thầy An, một giáo viên còn rất trẻ phụ trách lớp tôi. Một hôm, thầy đang giảng bài, ghi chép trên bảng, bạn Tài Tây lai, to con hơn tôi nhiều ngồi dãy bàn trước lo ra, nói chuyện. Thầy An bực mình quay xuống, thuận tay cầm “torchon” ném bạn Tài. Anh ta hoảng hồn nghiêng mình tránh cuộn giẻ lau bảng. Ngồi phía sau, tôi lãnh đủ cái “torchon” ngay giữa mặt. Tôi chới với ôm mặt. Tiếp theo, tôi thấy ướt tay. Máu mũi chảy ra thấm đỏ, nhểu xuống áo. Thầy An cũng hoảng hốt vội dắt tôi ra vòi nước gần sân banh rửa mặt, rồi vỗ trán tôi. Thầy còn xả nước làm sạch vết máu loang trên áo tôi.

Khi trở vào lớp, thầy có vẻ buồn, ân hận nhưng không nói lời xin lỗi. Bạn Tài thì vẫn cứ tỉnh bơ vì anh ta vẫn có tiếng nghịch ngợm nhất trong lớp. Thầy An, qua một hai năm sau cũng chuyển đi nơi khác.

Gần mười năm sau, tôi gặp lại thầy An ở Long Xuyên. Tôi có kể chuyện những năm tiếp theo ở trường Mossard nhưng tôi tuyệt nhiên không nhắc tới cái chuyện cái “torchon” ngày trước. Một hai năm sau nữa, tôi lại gặp thầy ở Rạch Giá. Có lẽ cuộc sống của thầy hơi khó khăn nên tôi thấy thầy già đi rõ rệt.

Khoảng cuối năm học lớp 10è, trường chuẩn bị cho xây dựng dãy lầu mới thay thế cho những lớp học cũ này. Khoảng sân bóng rổ trước mặt nhà nguyện mới ngày nay, lúc đó chỉ là sân cỏ. Một căn nhà tạm, không vách được dựng lên để các công nhân bắt đầu việc cắt, uốn phần cốt thép xây dựng.

Dãy lầu secondaire rộng, dài và cao cần rất nhiều sắt cho phần cốt thép. Người thầu xây dựng cho lập hai điểm tựa để kéo thẳng các cuộn sắt tròn. Điểm thứ nhất là một gốc cây cổ thụ nằm ngay góc sân cây dầu, sát phần đất nghĩa địa, cạnh đường dẫn ra chuồng heo. Điểm thứ hai cách đó hơn hai mươi mét nằm ở khoảng giữa khung thành lớn của sân banh. Nơi đây, một máy “cảo” được định vị bằng những cây cọc cắm sâu vào lòng đất.

Một đầu cây sắt được neo vào gốc cây cổ thụ. Đầu còn lại móc vào sợi dây cáp của máy cảo. Sau đó, người ta quay máy cảo thu ngắn dần đoạn dây cáp. Cây sắt dần được kéo thẳng ra, hỗng hổng lên khỏi mặt đất. Người ta lại dùng một cây đước dài to bằng cườm chân đập nhiều lần lên cây sắt khiến nó thẳng ra và lại chùng xuống. Một lần nữa máy cảo lại kéo căng cây sắt và cây đước tiếp tục đập cho sắt dãn và thẳng. Đôi ba lần như thế thì người ta có được một thanh sắt dài và thẳng để sử dụng cho phần cốt thép.   

Công việc này khá là nguy hiểm nên chủ thầu thường chỉ cho thực hiện trong giờ học. Các học sinh cũng được dặn không nên đến gần nơi đây. Việc này diễn ra khá êm thắm và lặng lẽ không ảnh hưởng nhiều đến việc học tập.       

Qua năm 9è, dãy lầu mới gần sân banh cũng vừa hoàn thành. Phần sân cỏ giữa dãy tiểu học và dãy mới cũng trở thành hai sân bóng rổ. Bốn trụ “tableau” được đúc bằng bê tông chứ không sử dụng ống tube như sân bóng rổ cũ gần bên Đệ Tử viện. Luôn cả tableau cũng làm bằng “dale”. Đây là phần sân tráng xi măng rộng nhất và sạch sẽ nhất của trường. Phía gần dãy lớp primaire còn giữ lại một cây vú sữa và một cây phượng vĩ để có bóng mát. Mặt sân bóng rổ cao gần bằng lầu một của dãy lớp học “primaire”. Một cầu thang lát gạch thẻ dẫn xuống sân cỏ dọc theo hành lang các lớp tầng trệt. Có lúc, các frère cho căng lưới làm hai sân vũ cầu tại sân cỏ này. Nhưng rồi không mấy ai chơi môn vũ cầu nên cuối cùng dẹp đi.

Trong những ngày đầu năm học lớp 8è, trường cho thay đổi đồng phục. Một buổi chiều học sinh sắp hàng trên sân bóng rổ, frère Eugène hướng dẫn chúng tôi cách thắt cà vạt. Frère có nhờ thầy Thỏa tiếp tay. Tuy nhiên thầy Thỏa bảo là ông ta đeo cà vạt thắt sẵn, có kẹp nhựa bên mặt trong, chỉ cần móc vào cổ áo là xong.
   
Frère Eugène tự tay, chậm rải thắt chiếc cà vạt cho chúng tôi xem. Một lần, rồi hai lần. Sau đó chúng tôi được phát mỗi người một chiếc cà vạt màu xanh đen, rộng bằng hai ngón tay. Hầu hết chúng tôi đều ngồi xuống, co chân lại và dùng đầu gối để thực hiện được chiếc cà vạt của mình. Công việc này đối với chúng tôi khá dễ dàng.

Kể từ đây, mỗi trưa thứ Bảy, khi được về với gia đình, chúng tôi rất hãnh diện trong bộ đồng phục mới. Rồi mỗi sáng Chúa nhật, chúng tôi đi lễ Misa với bộ đồng phục có chiếc cà vạt trên cổ áo. Do vậy, chúng tôi có vẻ chững chạc hơn.

Đến năm tôi học lớp 5è, thầy Hồng có giảng cho chúng tôi nghe về kích thước của chiếc cà vạt qua từng giai đoạn của cuộc đời. Khi còn đi học cho tới lúc chưa lập gia đình thì con trai chỉ đeo chiếc cà vạt có bề khổ bằng hai ngón tay. Sau khi kết hôn thì bắt đầu mang chiếc cà vạt to bằng ba ngón tay. Lớn tuổi hơn nữa thì tùy ý thích của mỗi người.

Trên sân bóng rổ còn lại cây vú sữa. Vào mùa trái chín, sau giờ học buổi sáng, frère Albert cho đem ra một cây sào dài có gắn một cây kéo hình câu liêm trên ngọn. Các anh lớn thay phiên nhau cắt trái. Các anh khác đeo trên cổ chiếc khăn, hai tay căng hai đầu khăn như chiếc vợt để hứng trái. Chúng tôi bu xung quanh, reo hò cổ võ rất náo nhiệt. Cây vú sữa rất sai trái, đủ để làm món tráng miệng cho các bạn nội trú của trường. 

Ngoài môn bóng rổ, thỉnh thoảng, trường tổ chức những trò chơi trên sân bóng mới. Các lớp nhỏ chơi trò nhảy bao bố, ngậm muỗng đựng trứng vịt chạy đua, thi đổ nước vào chai, lớn hơn một tí thì đua cà kheo… Các anh lớp lớn thi chạy xe đạp. Các anh chạy một đoạn, ghé vào trạm ăn một chiếc bánh bông lan, rồi tiếp tục cuộc đua đến một trạm khác để uống một chai xá xị con cọp. Vì là cuộc đua nên các anh đã phải ăn ngấu nghiến và “ực” chai nước ngọt khiến có anh bị nghẹn và sặc sụa trên đường đua.

Niên khóa 1965-1966, khi lên lớp 7è, tin tức trong nước báo sắp xuất hiện sao chổi. Tuy nhiên thời gian xuất hiện sẽ diễn ra vào khoảng 3, 4 giờ sáng. Chúng tôi khó có dịp chứng kiến. Đêm xuất hiện sao chổi, tình cờ tôi thức giấc và đi toilet. Tôi gặp bóng thầy Thỏa đứng nơi cửa sổ nhà ngủ primaire II, nhìn về hướng piscine. Thầy quay lại, vẫy tay gọi tôi. Khi tôi nhẹ nhàng bước đến gần thì thầy bảo nhỏ: “Chut! Xem sao chổi nè.” Tôi ghé sát cửa sổ nhưng không nhìn thấy vì tôi lùn quá. Thầy cặp nách tôi, nâng lên. Tôi chồm người tới. Thầy một tay giữ hông tôi, một tay chỉ về hướng piscine. Tôi nhìn thấy một vệt sáng mờ mờ như ánh đèn pin quét nhẹ trên bầu trời đêm. Lần đầu tiên tôi nhìn được sao chổi và có lẽ chỉ một mình tôi trong số các bạn tiểu học may mắn được thầy Thỏa chỉ cho coi hiện tượng này.

Cũng trong năm này, một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú khác lại xảy ra: Nhật thực. Lần này thì cả trường được báo tin để chuẩn bị theo dõi. Sau cuối giờ học buổi sáng, chúng tôi tập trung đông đủ trên sân bóng rổ. Nhóm này chuẩn bị một thau nước. Nhóm kia thì dùng một tấm kính đã hứng lấy khói đen từ ngọn đèn cầy. Nhóm khác thì chia nhau các tấm phim âm bản Kodak, loại bảng to.

Khi mặt trăng bắt đầu “ăn” mặt trời thì mọi người reo hò nhìn qua những thau nước, tấm kính hay tấm phim. Frère Eugène bước đến bảo chúng tôi chỉ cần một tấm bìa tập cũng có thể thấy được nhật thực. Frère bảo chúng tôi soi một lỗ tròn nhỏ bằng chiếc đầu đũa ăn trên tấm bìa rồi hứng lấy ánh sáng mặt trời xuyên qua đó. Chỉ cần đặt tấm bìa ở một khoảng cách hợp lý trên mặt sân thì nhìn được nhật thực.

Thật lạ lùng, ánh sáng đi qua lỗ tròn vo nhưng lại hiện trên nền sân bóng rổ một vệt sáng tròn khuyết y như cảnh nhật thực đang diễn ra trên bầu trời.

Theo đà phát triển rất nhanh, năm 1967-1968, trường chuẩn bị cất nhà nguyện mới. Dãy nhà cũ, nhìn về hang đá Đức Mẹ, nối liền hai dãy lầu mới, được tháo dỡ trong những ngày hè.

Lần này người ta cũng dùng máy cảo để kéo thẳng các cuộn sắt tròn. Một gốc me tây to nằm ngay sau khung thành nhỏ trên sân banh, sát bên đường đi về chuồng heo làm điểm tựa thứ nhất. Chiếc máy cảo được neo vào một cây me tây khác cách đó khoảng ba mươi mét về hướng sân bóng rổ. Hai điểm tựa lần này thẳng góc với hai điểm kéo sắt lần trước.

Công việc xây cất lần này diễn ra trong năm học. Hố móng cho mỗi cột rộng khoảng hai mét vuông vức và sâu hai mét rưỡi; không đóng cừ. Ở miền tây, quê tôi, mỗi khi cất nhà người ta đóng hàng trăm cây cừ tràm cho nền móng. Tôi có nêu thắc mắc và được trả lời: miền tây là vùng đất ẩm, nhiều phù sa và bùn tức là không “chân”. Tràm là loại cây chịu nước rất thích hợp để làm chân cho nền móng. Thủ Đức là vùng đất khô chắc, có chân nên không cần thiết phải sử dụng tràm. Hơn nữa đất khô không thích hợp với cây tràm.

Thỉnh thoảng, tiếng máy nổ đưa vật liệu xây dựng lên tầng cao làm gián đoạn bài giảng trong lớp. Việc thi công diễn ra khá khẩn trương. Qua từng ngày, nhà nguyện dần hiện ra như một đoạn phim hoạt họa. Một hàng cột thẻ, từng cặp trang trí mặt tiền khiến người ta liên tưởng đến Dinh Độc Lập, một công trình độc đáo của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ. Mặt sau là những khuôn bánh ú trắng gợi hình ảnh của Tòa Đại Sứ Mỹ. Tất cả toát ra vẻ duyên dáng mà uy nghi.

Khi dãy nhà nguyện hoàn thành thì chỉ sử dụng tầng trệt làm “préau”, lầu hai làm nhà ngủ của các lớp primaire. Nhà nguyện ở lầu một thì còn chờ trang trí nội thất.


Con dốc đất đỏ dẫn xuống piscine cũng được lấp đi để nới rộng hai sân bóng rổ. Một sân bóng mới nằm cạnh sân volley. Một chiếc xe cần cẩu bứng hai trụ tableau gần nhà nguyện để dựng nơi sân mới. Hai trụ khác được đúc thay thế ở vị trí cũ. Lần này tableau được làm bằng gỗ.

Giờ đây mặt sân trước nhà nguyện rộng lớn và sạch sẽ. Nơi đây diễn ra những lần họp mặt trong các dịp lễ hội. Có lẽ những buổi lễ chào cờ đầu tuần của trường bắt đầu diễn ra trên sân bóng mới này. Đêm tất niên, các frère cho dọn các bàn dài trong nhà ăn ra đây để toàn trường cùng dự bữa tiệc văn nghệ lộ thiên.


Khi bước chân vào Đại học sư phạm Sài Gòn tôi mơ ước sẽ có dịp trở về để đứng trên bục giảng của mái trường xưa. Rồi vận nước đổi thay …giấc mơ tan biến. Bèo giạt mây trôi, chỉ còn lại những kỷ niệm vui buồn thân yêu không thể quên.