Nguồn gốc con Long Mã


         Ngày nay, việc tìm lại nguồn gốc con Long mã ở miền Tây là một việc vô cùng khó khăn. Đây là một điều đáng tiếc vì con linh thú này đã từng bị xem là thứ “cấm kỵ”. Những bô lão hiểu biết nhiều (trong ban tế tự đình làng) đã lần lượt nằm xuống. Người còn sống thì không nắm được gốc tích chính xác. Lớp trẻ thì chỉ biết một vài chi tiết thoáng qua từ một vài người cao niên ở địa phương.

         Liên quan đến con linh thú này, xin tóm tắt các tài liệu trong sách cổ như sau: 

         “Từ đời vua Nghiêu, sông Hoàng Hà cứ ngập lụt làm cho dân gian khổ sở, mùa màng hư hại, nhân mạng bị giết hại rất nhiều. Vua Nghiêu sai ông Cổn trị lụt nhưng không đem lại kết quả mà còn gây thêm thiệt hại. Đến đời vua Thuấn ông Vũ được thay thế cha làm công việc này. Ông phải vất vả ròng rã suốt ba mươi năm liền dùng cách sơ đạo khai thông sông ngòi cho nước lụt được thuận giòng chảy ra bể, nhờ đó nước mới rút hết được.”
(Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển. Trinh Vân Thanh.)

         Trong mục Phục Hy sách đã dẫn, Trịnh Vân Thanh lại viết thêm: 

         “Phục Hy.- Tên một ông vua ở nước Tàu đời Thượng cổ. Người họ Phong. Phục Hy dạy dân biết cày bừa để canh tác, nuôi gia súc để dùng vào việc ăn uống, dạy dân đánh cá, sáng lập văn khế và vạch bát quái. Tại vị được 115 năm, truyền đến 15 đời và gồm tất cả là 1.260 năm. (xem chữ “Ngũ Đế”). Trong thơ cổ có câu:

         Phục Hy chế tác lễ nghi,

         Thủy hoạch bát quái có kỳ lân ra.”

         Ở đây xin nói thêm một ít về Phục Hy. Trong bài “Hạ Vũ có phải là tổ tiên người Việt?” Hà Văn Thùy đã viết:

“…Sử sách Trung Hoa ghi những vị vua thời tiền sử của họ gồm có: Phục Hy (2852 TCN), Thần Nông (2737 TCN), Hoàng Đế (2697). Tiếp theo là Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn rồi đến Hạ Vũ (2205 TCN). Học giả La Hương Lâm trong cuốn “Bách Việt nguyên lưu dữ văn hóa,” một khảo cứu công phu về lịch sử và văn hóa các tộc Bách Việt cũng cho rằng, người Việt khởi nguyên từ nhà Hạ rồi lan ra khắp Trung Hoa, không chỉ tại miền Kinh Sở mà còn tới cả các tộc Việt ở Tây Nam Trung Hoa cho tới Lào, Mianmar.

          Vì vậy, vấn đề đặt ra với chúng ta là, gốc tích của Hạ Vũ từ đâu?

          Trong số các ông vua kể trên, ta biết, Phục Hy, Thần Nông là hai vị vua của người Bách Việt. Khoảng 4.000 năm trước, người Việt cổ gồm bốn chủng là Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid mà nhân chủng học gọi là nhóm loại hình Australoid từ Trung và Bắc Việt Nam đi lên khai phá Trung Quốc. Sống trong những vùng địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau, người Việt cổ chia ra thành nhiều dòng Việt, được lịch sử gọi là Bách Việt. Truyền thuyết ghi nhận ông vua đầu tiên của người Bách Việt là Toại Hoàng, còn được gọi là Thiên Hoàng. Tiếp đó là Phục Hy, gọi là Địa Hoàng và Thần Nông được gọi là Nhân Hoàng”.

          Theo CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN, Soạn giả: Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng, bút hiệu ÐỨC NGUYÊN, nguồn gốc con Long mã được ghi lại, xin tóm lược như sau:

         “Long mã phụ Hà đồ
(龍 馬 負 河 圖 )

          Đây là bức đồ của vua Phục Hy (2852-2737 trước TL) vẽ lại 55 chấm đen trên lưng con Long mã đã xuất hiện trên sông Hoàng Hà. Vua Phục Hy đã căn cứ vào đó để tìm ra giải pháp khắc chế con nước dữ của sông Hoàng Hà.”

          Trong phần mô tả các chi tiết kiến trúc của Tòa Thánh Tây Ninh có đoạn viết:

          “Trên nóc Tòa Thánh Tây Ninh, chỗ Nghinh Phong Đài, Đức Phạm Hộ Pháp cho làm một bán cầu tượng trưng Địa cầu 68 của nhơn loại, trên có có đắp hình Long Mã phụ Hà đồ.”

          “Long mã, mình hướng theo chiều Tòa Thánh, bộ điệu đang chạy từ hướng Đông sang hướng Tây, nhưng đầu Long mã ngoái nhìn lại hướng Đông.”

          “Ý nghĩa: Long mã tượng trưng Âm Dương (Rồng tượng trưng Dương vì rồng bay trên Trời, ngựa tượng trưng Âm, vì ngựa chạy trên mặt Đất), Âm Dương phối hiệp là Đạo, nên Long mã tượng trưng Đạo. Long mã chạy từ Đông sang Tây, ý nói Đạo xuất ư Đông và truyền qua hướng Tây. Nhưng đầu Long mã ngó ngoái lại phương Đông, ý nghĩa là Đạo sẽ lại trở về hướng Đông, vì đây là gốc của Đạo.”

          “Long cũng tượng trưng không gian vì rồng vùng vẫy trong không trung, mã tượng trưng thời gian vì ngựa chạy trên mặt đất lúc mau lúc chậm, cho nên Long mã  tượng trưng không gian và thời gian, tức là tượng trưng Càn khôn Vũ trụ, luôn luôn xoay chuyển không bao giờ ngừng nghỉ.”

          “Trong nghi thức tiếp rước của Đạo Cao Đài có nghi thức múa Long mã. Đây là một nét văn hóa nổi bật, độc nhất vô nhị, vì không nơi nào có. Trước đây, người ta chỉ biết múa lân, múa rồng, múa sư tử, ngày nay Đạo Cao Đài có nghi thức múa Long mã rất đẹp và oai nghiêm để tiếp rước Hội Thánh, hoặc các Chức sắc Đại Thiên phong lãnh đạo Hội Thánh, tiếp rước các vị lãnh đạo các quốc gia và tôn giáo.”

          “Điệu múa Long mã không giống múa Lân, điệu múa có lúc rất hùng dũng, có lúc rất uyển chuyển, tập luyện rất công phu. Hình Long mã đẹp và lạ mắt, làm nguyên hình, chỉ có 4 chân được thay bằng 4 chân của hai người múa mà lớp vải quần vẽ giống như chân Long mã.”

          “Hình Long mã còn được bông bằng các thứ cành cây hoa kiểng, trên một sườn xe hơi bốn bánh, trên lưng có làm chỗ để chở liên đài của chư Chức sắc cao cấp hàng Tiên vị đổ lên khi qui liễu, di chuyển đến các nơi tế lễ và đến bửu tháp, gọi là Liên đài kỵ Long mã.”

          “Cho nên, Long mã là một trong những nét đặc trưng của Đạo Cao Đài.”

Tài liệu về lịch sử kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài ở Tây Ninh có ghi lại thời gian thực hiện công trình như sau:

          “Tòa Thánh được khởi công xây dựng từ năm 1931 (Tân Mùi), hoàn thành vào năm 1947 (Đinh Hợi), và được khánh thành vào dịp Đại Lễ Vía Đức Chí Tôn ngày mùng 9 tháng Giêng năm Ất Mùi (dl 1-2-1955).”


          Ông Mười, (sanh năm 1910, mất năm 1989) bạn vong niên của ba tôi, là người cao niên sống ở Thốt Nốt đã từng kể lại: khi ông ta còn nhỏ, khoảng năm 1920 đã biết con Long mã trong những lần cúng đình ở đây. Ông cũng nhớ lại những lần tôi bị đòn vì mải mê theo đoàn Long mã. Rồi mẹ tôi cũng kể lại: ông Tám (mất năm 1978), cậu của mẹ tôi, phụ trách trống lễ của đình thần xã Thạnh Hòa Trung Nhứt đã từng biết trống Long mã. Ông đã nhiều lần bàn bạc và so sánh nhịp điệu trống Long mã với trống Lân Sư và trống lễ cúng đình. Và gần đây nhất là chú ruột của tôi (sanh năm 1930 hiện sống ở Long Xuyên) đã quả quyết rằng Long mã rước sắc thần đình làng Thạnh Hòa Trung Nhứt đã có từ khi ông mới 6, 7 tuổi, tức khoảng 1936-1937. Các xã khác thuộc quận Thốt Nốt như Thới Thuận, Trung An, Tân Lộc, Thạnh Quới đều có đội Long mã. Ngay cả bên kia bờ sông Hậu, quận Lấp Vò cũng từng đưa đội Long mã qua chợ Thốt Nốt thi múa. Tuy nhiên, họ không biết rõ chi tiết về nguồn gốc cũng như ý nghĩa của con Long mã.

          Có một câu hỏi: con Long mã xuất hiện đầu tiên ở Châu Đốc, Long Xuyên hay Tòa thánh Tây Ninh?     

          Về mặt địa lý, Châu Đốc và Tây Ninh không có đường giao thương trực tiếp. Nếu Long mã có nguồn gốc từ Tây Ninh rồi lan dần về miền Tây ắt phải qua các vùng Sài Gòn, Tiền Giang rồi đến Hậu Giang. Tuy nhiên, Long mã không thấy xuất hiện ở những đoạn đường trung gian này.

         Theo những tài liệu ở Tòa Thánh Tây Ninh được trích dẫn, ta có thể ghi nhận những điểm sau :

          1. Tòa Thánh được xây dựng, có tượng Long mã trên Nghinh Phong đài xuất hiện sau thời gian con Long mã xuất hiện ở Long Xuyên, Châu Đốc. (từ 1931 đến 1955)

          2. Ý nghĩa của Long mã được diễn giải xoay quanh Đạo, Âm Dương chứ không liên quan trực tiếp đến việc trị thủy như trong các sách đã ghi.

          3. Long mã chỉ xuất hiện trong khuôn viên Tòa Thánh qua nghi thức trang trọng tiếp rước các vị chức sắc của Đạo giáo. (Long mã không gần gũi với dân gian).

          4. Vùng đất Tây Ninh không có mùa nước đổ như ở miền Tây, yếu tố liên quan trực tiếp đến sự có mặt của Long mã.

Nói về Đạo Phật Giáo Hòa Hảo thì Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo vào ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939). Đức Thầy chủ trương “tu tại gia”, đơn giản hóa nhiều nghi thức để nhắc nhở tín đồ chú trọng vào cái “tâm”. Ngay từ đầu, Phật giáo Hòa Hảo chưa có những điều kiện cơ sở rộng lớn để tập họp tín đồ. Việc truyền bá giáo lý thường chỉ diễn ra ở những độc giảng đường. Đến sau năm 1947, Đạo Hòa Hảo mới tổ chức kỷ niệm ngày khai sáng đạo 18 tháng 5.Từ đây mới bắt đầu thấy xuất hiện con Long mã trong những dịp này. Sau ngày 01-11-1963, Long mã được thấy thường xuyên hơn trong những ngày giỗ tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) tại sân chợ Thốt Nốt. Trong những dịp lễ này, Long mã múa nơi sân chợ, nơi có mặt bằng rộng chứ không xuất hiện trong chùa. Hơn nữa, con Long mã tuyệt nhiên chỉ múa theo nghi thức lễ chứ không “ăn” phần thưởng treo trên giá như con lân sư bao giờ. Đây là một nghệ thuật hoàn toàn “phi thương mại”.

         Long mã ở miền Tây chỉ xuất hiện một màu duy nhất là màu vàng. Có lúc ở sân chợ Thốt Nốt hội tụ bốn năm con Long mã thi múa nhưng tất cả đều mang sắc thái vàng. Không biết từ bao giờ, người ta khai sinh thêm một con Long mã màu trắng và xanh da trời như trong một video clip về múa Long mã ở Tòa Thánh Tây Ninh. Có lẽ người ta muốn nó có đôi có cặp chăng.

         Trong một câu chuyện dân gian kể về Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ chỉ có một đoạn ngắn nói về con Long mã như sau:

          Còn Năm Chèo, từ khi biết Thầy về, nó lặn mất không còn tâm dạng. Dùng thần thông kêu lên một tiếng tức thì nó nổi lên. Từ thân hình to lớn dị thường, nó rùng mình một cái, bỗng biến ra nhỏ lại và không phải hình con sấu Năm Chèo, mà là một con Long Mã. Long Mã liền chạy tới trước mặt Thầy; qùy hai chân trước xuống. Con Long Mã nầy trên lưng có hàm ấn rõ ràng. Khi đó Thầy lên lưng cỡi nó. Long Mã liền chạy đi biểu diễn, ban đầu trên mặt đất, kế chạy trên mặt nước. Sau cùng chạy giữa hư không như ở đất liền.”

         Như vậy, Long mã đã được đưa vào những nghi thức của đạo Hòa Hảo. Chính vì lý do này mà người ta đã gán cho nó là con “lân giáo phái”. Và rồi từ sau biến cố tháng 4, 75 việc múa Long mã bị xem là cấm kỵ, không ai dám nhắc tới. Theo thời gian, nó cũng bị quên lãng và khó tìm lại được những dấu tích quan trọng về nguồn gốc.    

          Riêng ở miền Tây, từ hằng trăm năm, hầu hết các vùng đất ở đầu nguồn sông MêKông  hằng năm đều phải hứng chịu một mùa nước lũ bắt đầu sau ngày tết Đoan ngọ. Châu Đốc, Long Xuyên là nơi đầu nguồn con sông MêKông đổ về.

          Năm 1808, Nguyễn Văn Thoại được cử làm Trấn thủ Định Tường. Năm 1818 ông cho đào con kinh Đông Xuyên (Thoại Hà) từ Ba Bần đi ngang qua Núi Sập, nối rạch Đông Xuyên với rạch Giá Khê (Rạch Giá) dẫn nước lũ thoát ra biển Rạch Giá. Năm 1819, ông cho đào thêm con kinh Vĩnh Tế dài hơn 90 km từ Châu Đốc thông ra biển Hà Tiên. Đến năm 1824 thì hoàn thành. Việc thực hiện hai con kinh trên đây gặp nhiều khó khăn gian khổ như chuyện ông Đại Vũ trị thủy nói trên. Cũng nhờ hai con kinh thoát lũ này, người dân vùng thượng lưu sông Cửu Long có được cuộc sống yên lành, ấm no. 

          Do vậy, theo suy nghĩ của tôi, nếu tích con Long mã liên quan đến “nước sông Hoàng Hà dâng cao” từ đời Phục Hy, thì ở miền Tây, đặc biệt vùng Long Xuyên, Châu Đốc là nơi đầu nguồn của con nước đổ hằng năm, con Long mã có vẻ gần gũi với đời sống và địa lý nơi đây hơn. 

         Phải chăng, sau khi có được những con kinh dẫn nước thoát ra biển Rạch Giá, người dân vùng châu thổ sông Cửu Long nói chung và vùng Châu Đốc, Long Xuyên nói riêng đã có được cuộc sống yên lành hơn. Từ sự tích con Long mã xuất hiện để giúp vua Phục Hy, Đại Vũ trị thủy, người dân đã cho Long mã sống lại trong những dịp cúng lễ “Kỳ Yên” để ghi nhớ công ơn của ông Nguyễn Văn Thoại.

         Ngày nay, thời kỳ hội nhập, giao lưu văn hóa, các công trình xây dựng đã đưa một số hình tượng mới lạ, lai căng phô trương nhiều nơi đang bị phê phán. Hơn nữa, trong những năm vừa qua, chúng ta đã cố gắng chạy đua phát triển và đến nay đã phải đối mặt với ít nhiều hậu quả không tốt. Chẳng hạn việc ngập úng khắp nơi trong cả nước và ngay cả tại nhiều khu vực dân cư, đường sá giữa nội thành. Hậu quả này khiến ta liên tưởng đến việc trị thủy không đến nơi đến chốn của ông Cổn thời xưa. Rồi đây, những dự án qui hoạch phát triển đô thị trong tương lai có dựa theo “55 chấm đen” (Hà đồ) trên lưng Long mã để đem lại cuộc sống yên lành, ấm no cho muôn dân không ?   

          Thiết nghĩ tìm lại, đánh giá đứng đắn về con Long mã, một con linh thú liên quan đến quá trình phát triển văn hóa, đời sống của dân tộc là điều cần làm. Hơn nữa cũng là để tri ân Thoại Ngọc Hầu, người đã gắng công đem lại cuộc sống no ấm cho dân lành. Long mã là một loại hình nghệ thuật dân gian có ý nghĩa lịch sử thiết thực với cuộc sống của dân cư vùng sông nước Cửu Long. Ta có thể tạm xem con Long mã là con “lân” thuần Việt.