Quê nội trong ký ức


Vào những năm đầu của thập niên 1960, ngay trước nhà việc (còn gọi là nhà Làng, trụ sở Ủy Ban Hành Chánh xã Thạnh Hòa Trung Nhứt) có một sân rộng hơn một công đất có tráng nhựa. Đối diện với nhà Làng là ngôi chợ nhà lồng được xây dựng từ trào Pháp. Hai dãy phố chạy dọc hai bên sân tạo thành một hình chữ nhật. Giữa sân người ta xây một bục xi măng vuông vức khoảng hơn hai mét mỗi cạnh. Bục có hai ba bậc quay quanh cột cờ. Mỗi sáng thứ hai, vào đầu giờ hành chánh, nơi đây diễn ra lễ chào cờ. Hai người lính từ dinh quận đem lá cờ mắc vào dây. Bài quốc ca “Nầy công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng…” được phát ra từ chiếc loa công cộng. Khi chiếc cờ từ từ được kéo lên thì mọi người dân đi chợ cũng tự dộng dừng chân, đứng nghiêm đến hết bài hát. Sinh hoạt dường như lắng đọng lại trong không khí rất trang nghiêm. Mấy năm sau bục vuông vức quanh cột cờ được phá đi và xây lại một bục hình tròn khoảng hai mét đường kính.

Sân cờ là nơi tụ tập vui chơi của lũ trẻ chúng tôi vào mỗi buổi chiều tắt nắng. Quanh cột cờ, các anh lớn ngồi trên bục xi măng tán dóc. Thỉnh thoảng họ buông lời chọc ghẹo các cô gái đang nhảy dây. Trước nhà lồng chợ thì một nhóm đánh cầu. Một bầy con trai khác rượt đuổi nhau chơi trò “Tù Vượt Ngục”. Ở góc kia thì chơi tạt lon, v.v. Sân cờ nhộn nhịp đến sập tối mới tan dần trả lại sự yên tĩnh.

Sân cờ cũng là nơi diễn ra những đêm chớp bóng. Buổi chiếu luôn được mở đầu bằng nghi thức chào cờ. Người dân thường được xem phim vào những ngày cuối tuần do đội chiếu phim của tỉnh về phục vụ ngay tại sân cờ. Chú Bé phụ trách ngành thông tin trực tiếp chuẩn bị mọi việc cần thiết cho đêm chiếu bóng. Người ta căng một màn ảnh trắng ngay trước nhà lồng chợ. Máy chiếu đặt cạnh cột cờ. Từ chạng vạng, người dân tụ tập trên sân ngóng chờ xem. Phim chiếu ngoài sân hầu hết là phim thời sự, phim truyện Việt Nam. Có một phim mà lũ trẻ chúng tôi rất mê là “Chiến tranh giữa máu và vi trùng”. Đây là một phim hoạt họa hình như nói về bệnh dịch tả. Các tế bào máu được vẽ thành những chiến sĩ màu đỏ, vi trùng thì màu đen.

Vào phim là cảnh sinh hoạt ở làng quê Việt Nam. Đó đây, xuất hiện những đống rác đủ loại. Các cầu tiêu xây dựng bừa bãi dọc theo kênh rạch. Ruồi nhặng bay từng đàn quanh các bãi rác, bãi phân. Rồi cơn mưa xuất hiện cuốn tất cả trôi đi khắp nơi cùng vô số vi trùng. Dứt mưa, đất trời khô ráo vi trùng theo những cơn gió bay đi tứ tán. Người dân dùng trực tiếp nước dưới kênh rạch mà không đun chín.

Các vi trùng đáp máy bay tấn công vào đường miệng và mũi. Chúng nhanh chóng tự nhân lên hai rồi bốn và cứ thế tăng theo cấp số nhân. Các chiến sĩ máu nhanh chóng báo động và bước ra nghênh chiến. Lúc đầu cuộc chiến có vẻ cân bằng lực lượng nhưng rồi sau đó, bọn vi trùng tăng quân số nhanh chóng khiến bên máu rơi vào tình thế nguy hiểm. Đến lúc này con người phải dùng thuốc để tăng cường quân số màu đỏ. Chiến sĩ nhà ta nhanh chóng tiêu diệt vi trùng. Các chiến sĩ bắt lấy bọn màu đen và nuốt gọn chúng. Có chiến sĩ dùng quả bom sơn đỏ làm mồi. Vi trùng chụp lấy quả bom cho vào mồm thì quả bom phát nổ. Banh xác. Cuối cùng vi trùng đã bị tiêu diệt. Bệnh tật cũng bị đẩy lùi. Phim có ý khuyến cáo người dân ăn uống cẩn thận và giữ vệ sinh trong sinh hoạt hằng ngày. Phải có nhà vệ sinh an toàn.

Đến năm học ở Thoại Ngọc Hầu, tôi thường xuyên quay về chợ Thốt Nốt vào những ngày nghỉ cuối tuần. Một hôm, chợ Thốt Nốt bỗng nhiên xôn xao. Người ta đổ xô về dinh quận. Tôi nghe loáng thoáng họ nói có “chồng chổng” chết trôi ngoài sông Cái. Tôi tò mò nhanh chân theo mọi người. Dòng người đi ngang qua dinh quận và tiếp tục hướng về đình thần ngoài sông Cái. Trước cổng đình là một sân rộng lớn ngay đầu vàm Thốt Nốt, tiếp giáp với sông Cái. Vào những năm 1960, nơi đây là sân khấu diễn ra những tuồng hát bội mỗi khi cúng đình. Ghe xuồng từ các nơi về tụ tập dưới bến đông nghẹt. Mấy năm gần, các gánh hát bội vắng đi, những tuồng hát chỉ còn được diễn gọn nhẹ trong sân đình.

 
Bờ sông Cái nơi đây là một bãi bùn lẫn cát bồi theo con nước hằng năm. Một đám người đứng trên bờ nhốn nháo chỉ trỏ. Vài người dạn dĩ hơn bước xuống tận mép nước. Đó không phải là cái xác người. Có lẽ là một loài cá lạ. Tiếng người bàn tán tranh cãi ồn ào.
 
    - “Ông Nược” đó tụi bây.
 
    - “Ổng” đây sao? Tao nghe người ta nói hoài, giờ mới thấy lần đầu.
 

    - Má tao kể hồi đó bả đi ruộng mỗi buổi sáng thường gặp “ông Nược”. Ổng dạn lắm, đi xuồng ngoài sông Cái là có ổng bơi cặp kè theo xuồng. Có lúc ổng cất đầu lên chọc phá phun nước ướt mình mẩy. Má tao cũng đùa “đua nè ông Nược ơi”. Bả với dì Út ra tay bơi siết lên. Ông Nược cũng đua theo. Ổng bơi không nhanh lắm nhưng cũng hơn chiếc xuồng của mình nhiều. Một hồi mỏi tay má tao bơi chậm lại. Ông Nược cũng bơi tà tà. Má tao nói “chịu thua rồi ông Nược ơi”. Rồi bả lấy nồi cơm đem theo đi ruộng đổ xuống cho ông Nược ăn.
 
    - Ông Nược cũng ăn cơm hả?
 
    - Má tao nói thua ông Nược thì phải đổ cơm cho ổng ăn hông thôi ổng nổi giận, ổng phun nước ướt nhẹp chiếc xuồng luôn. Có khi ổng còn dựa vào làm lật ghe, chìm xuồng nữa đó. Mà bả nói bả chưa từng thấy ông Nược giận bao giờ mà chỉ nghe ông bà kể lại và dặn dò thế thôi.
 
Con vật nằm sấp cạnh mép nước. Lưng cá phơi mình trong nắng có màu xám. Thỉnh thoảng vài con sóng nhỏ từ chiếc ghe máy đuôi tôm đi qua vỗ bờ làm lay động xác chết. Cá Nược có cái trán vồ, cái miệng nhỏ, nhọn, mình cá không vẩy giống cá heo. Vây trên lưng cũng nhỏ và dày nằm gần khúc đuôi. Thân mình cá tròn cỡ một ôm chỉ hơi thon lại phía đằng đuôi một chút chứ không giống các loại cá thường thấy nơi sông Cái. Có lẽ con cá này đã trưởng thành, nó dài khoảng 1,6 mét. Hai chiếc bơi ở hai mang tai xòe rộng và dày.
 
    - Mấy năm trước cũng có một con không biết sao bơi lạc vào kênh trường học và có lẽ mắc cạn rồi chết ở đó. Con đó nhỏ hơn con này khoảng một bảy một mười.
 
    - Sao tự nhiên nó chết ở đây cà, thấy tội nghiệp quá đi.
 
Chú chèo đò ngang bất bình la lớn:
 
    - Sao tự nhiên được. Hồi nãy trên chuyến đò ngang của tui có tay lính thấy cá phóng lên phun nước tưởng là trúng mánh lấy súng cạc bin bắn một phát. Tôi không kịp cản. Con cá quẩy đuôi lăn lộn mấy vòng một hồi rồi nổi lên phơi cái bụng trắng hếu ra. Lúc đó hắn ta mới tá hỏa biết là cá nược. Một chiếc ghe khác thấy vậy mới lôi con cá vào bờ đó chứ.
 
    - Trời đất! Ông lính đó đâu rồi?
 
    - Đò cặp bến, ổng sách súng lên bờ đi thẳng một nước mất dạng. Chắc là lính địa phương quân của quận mình chứ đâu.
 
Anh H. một thanh niên có tiếng gan lì ở chợ quận bước đến bên xác cá. Anh ta lòn hai tay bợ cái xác, lật ngửa con cá. Cái bụng trắng nõn hiện ra khiến mọi người xôn xao ồ lên sửng sốt. Phần bụng trắng hơn phần lưng. Trên ngực nhô ra cặp vú nhỏ trắng toát như hai trái vú sữa non. Thấp hơn một chút có một lỗ nhỏ bằng đầu đũa ăn. Máu còn rỉ ra chút ít hòa với nước sông thành màu hồng nhạt. Có lẽ là vết đạn.
 
    - Ý, là một con cá nược cái bây ơi.
 
    - Ừ hé, ngộ quá! Cũng có cặp vú như con gái vậy.
 
    - Sao người ta lại kêu là “Ông Nược”, phải “Bà Nược” mới đúng chứ.

    - Ậy ậy, đừng có nói đùa vậy, không nên đâu. Từ bao lâu nay ông bà mình đã xem đây là loài vật linh thiêng nên gọi là “Ông Nược”, giống loài cá Ông vậy đó.
 
Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi được tận mắt nhìn thấy cá nược. Hồi nhỏ, tôi vẫn nghe nhiều người lớn kể chuyện cá nược. Lúc đó tôi cứ nghĩ đó là chuyện cổ tích. Tôi không nhớ chính xác sự kiên này xảy ra năm nào. Chỉ nhớ khoảng năm 1970-1971. Anh H. sau vụ này thi đậu Tú Tài II, cũng nhằm đợt đôn quân. Anh ta không thể tiếp tục vào đại học mà ghi danh vào trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức. Sau giải phóng anh ta có về quê và đi học tập cải tạo mấy năm. Cuối cùng, anh ta vượt biên và sống tại Mỹ.