Tiếng thơ trong bài ca vọng cổ

Ban biên tập xin được giới thiệu bài biên khảo “Tiếng thơ trong bài ca vọng cổ”.

Bài viết này đã được đăng trên website của tập san Nghiên Cứu Văn Hoá Đồng Nai & Cửu Long, Úc Châu – http://dongnaicuulongucchau.org.au/

Trân trọng.



Mục lục 

1.  Khúc ca cho người hành khất
2.  Chuyện đời
3.  Truyện xưa tích cũ
4.  Tôn giáo
5.  Tình yêu
6.  Khôi hài & tệ đoan xã hội
Tài liệu tham khảo



Người miền Nam, phần đông ai cũng thích cải lương vọng cổ – có lẽ tiếng nhạc cải lương thấm vào máu huyết và là một phần DNA (1) của người dân miền này. Trường hợp của tôi, lớn lên trong lúc cải lương đang trên thời kỳ phát triển mạnh, tiếng hát cải lương là một âm thanh quen thuộc của bối cảnh xã hội thuở đó, tôi nghe tiếng hát cải lương qua rạp hát gần nhà, qua phố chợ, qua đài phát thanh và máy hát dĩa (máy pick-up) ở nhà. Nhà bà nội tôi ngay đầu chợ Bà Điểm (2), còn rạp háp cải lương Ngọc Phượng thì lại cuối chợ gần với tiệm gạo của cô tôi. Những buổi chiều, khi có đoàn hát dọn về chợ, tiếng hát cải lương qua haut parleurs vang dội cả xóm chợ như ngày hội lớn. Gần gũi với rạp hát, tôi được biết về nếp sinh hoạt của nghệ sĩ cải lương: có lẽ cuộc đời của họ như là hiện thực buồn vui trên sân khấu – đó là cuộc đời “ăn chợ ngủ đình” rày đây mai đó, phiêu bạt giang hồ lấy khán giả sân khấu là bạn, bốn phương là nhà. Những buổi hát đông khách, tiền thu nhập nhiều nghệ sĩ sống huy hoàng, cơm tiệm nhà hàng phủ phê, còn những buổi chiều mưa ít người đi xem hát, họ ăn cháo thay cơm. Có nhiều lần, nghệ sĩ cải lương không tiền phải mua thiếu ở tiệm gạo của cô tôi; vì vậy có những buổi chiều mưa, cô tôi đứng trước cửa tiệm gạo của mình và tiên đoán là gánh hát đêm đó ăn cháo. Thậm chí có những đoàn hát lưu diễn xa, không đủ tiền sở hụi phải đành rã gánh…

Đối với tôi, những bài cải lương vọng cổ xưa chứa đựng nhiều kỷ niệm trong sáng và hình ảnh cũ của quê hương thơ mộng. Khác với những tuồng cải lương, những bài sáu câu vọng cổ làm người ta nhớ đến nhiều vì ngắn gọn, dễ nhớ và mỗi bài như là một mẫu chuyện ngắn (3) nghe qua vừa giải trí vừa nghiền ngẫm. Trong những bài hát vọng cổ cũ, hình như mọi đề tài điều được đề cập: cảnh người ăn xin hát dạo, tình yêu trai gái, tình yêu quê huơng đất nước, tệ đoan xã hội, chuyện cười, truyện xưa tích cổ… Cải lương có khả năng diễn đạt rộng rãi vì văn chương cải lương là nhắm vào giới bình dân cho nên gần gũi với đề tài thường nhựt trong cuộc sống, nhưng ta cũng thấy được giá trị cao trong các câu vọng cổ, cách nói lối và ngâm thơ. Thi ca trong cải lương có lúc cao vời và đôi lúc cũng rất… bình dị cải lương. Xa quê hương lâu năm, được nghe lại sáu câu vọng cổ, tưởng như đi ngược dòng thời gian để nhớ đến cội nguồn qua âm điệu quen thuộc của cổ nhạc và thi ca. Nghe vọng cổ mà nhớ lại cảnh xưa – đó là nghe để mà nhớ. Trong bài này, tôi xin bàn luận về tiếng thơ trong bài ca vọng cổ qua các bài hát tiêu biểu đã từng nổi tiếng một thời.

oOo 

Trong những bài vọng cổ, người ta thấy tiếng thơ tràn lan trong nhiều đề tài khác nhau như:
  • Khúc ca cho người hành khất 
  • Chuyện đời 
  • Truyện xưa tích cũ 
  • Tôn giáo 
  • Tình yêu 
  • Khôi hài & tệ đoan xã hội… 
Mỗi bài là mỗi câu chuyện ngắn được cô động và diễn tả một cách linh động lôi cuốn qua những điệu hát và vần thơ. Cách hành văn trong cải lương phần nhiều là văn vần, câu dặm, nói lối, nhiều câu lục bát, thỉnh thoảng có vài thơ Đường luật và có khi toàn bài là một thể văn vần.

<mục lục>


1. Khúc ca cho người hành khất

Thử nghe qua mấy câu thơ trong bài Sầu vương ý nhạc

Em ở nơi nào, em ở đâu? 
Lời ca tức tưởi mấy cung sầu. 
Quê nghèo, áo nhuộm màu sương gió, 
Một kiếp phong trần, mấy bể dâu. 

Thoạt đầu đọc câu thơ trên người ta cảm thấy một khung trời nên thơ huyền ảo, vậy mà qua bài cải lương vọng cổ, ta mới biết được là bài hát tả cảnh cô bé ngây thơ hát dạo dắt một ông lão tật nguyền ăn xin bên cầu Bến Lức trên sông Vàm Cỏ.

Xe dừng lại bên kia cầu Bến Lức, 
Nhạc ai làm ray rứt cõi lòng ta. 
Họ không là những nhạc sĩ tài ba, 
Mà đời gian khổ là bài ca đầy nước mắt. 
…. 
Mưa lành lạnh buồn bay theo ngọn gió, 
Gió trở chiều thổi nhẹ hạt mưa sa. 
Buồn làm sao những tiếng nhạc, lời ca, 
Tình nhân loại chan hòa tình đất nước. 
(Sầu vương ý nhạc – Viễn Châu) 

Chỉ có cải lương, qua lời ca mộc mạc, vần thơ chân thành thấm thiết và ưu ẩn ta mới hiểu được lòng hành khách trên xe đò về miệt Hậu giang đối với người ăn xin bên cầu Bến Lức: “Ôi buồn làm sao người đi, kẻ ở, buồn làm sao những rạn vỡ tâm hồn” .

Tiếng ca của Người đánh đàn trên sông Mỹ Thuận vào một buổi chiều, tự thuật đời mình:

“Đời em sống với bạc vàng, 
Còn anh làm kẻ đánh đàn ăn xin. 
Anh đi biệt dạng biệt hình, 
Hết ân, hết ái, hết tình, hết duyên.” 
… 
Đêm hôm đó nơi bến đò Mỹ Thuận, 
Người đánh đàn lần bước cạnh bờ sông. 
Tay run run ôm chiếc lục huyền cầm, 
Dò bước một giữa trời đêm đầy sương gió. 

Rồi người đánh đàn vô danh ra đi lặng lẽ dưới giòng sông Tiền Giang, để cho lữ khách qua bắc (phà) Mỹ Thuận không khỏi ngậm ngùi:

Hò... ơ! 
Đèn treo bến Bắc, gió hắt ngọn đèn tàn, 
Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang, 
Có thương nhớ gã..., hò... ơ, 
Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa. 
(Người đánh đàn trên sông Mỹ Thuận – Viễn Châu) 

Hay là tiếng đàn tranh của người nghệ sĩ già trổi lên để đổi từng manh áo bát cơm trong bài Đời mưa gió

Rung rung mười sáu dây đồng, 
Đàn đâu giải được nỗi lòng khổ đau. 

và tiếng nhạc “u hoài tầm tã giọt mưa rơi”
Mưa rơi hoa lá tiêu điều 
Đàn ai vọng đến một chiều gió mưa 

của một người đánh đàn vô danh
Cô em bảo với họ rằng, 
Lão là một kẻ dạo đàn không tên. 
(Đời mưa gió – Viễn Châu) 

Một cảnh chiều mưa tại Sở thú Sài gòn ngày xưa mà trong bài Mưa lạnh Thảo cầm viên đã tả lại tâm sự của hai cha con người ăn mày

Con nhỏ dại cha tật nguyền đui tối, 
Dắt dìu nhau qua ngõ tối đô thành, 
Một buổi chiều mưa lạnh Thảo cầm viên, 
Đèn hiu hắt bắt đầu soi trên phố vắng. 
... 
Cha ơi! Thảo cầm viên chiều nay vắng khách, 
Gió xạc xào qua kẻ lá tàng cây, 
Để cha ngồi xuống đây nắng phiếm so dây, 
Cho con cất giọng ưu hoài trong tiếng nhạc. 

Cảnh mưa buồn tê tái như nỗi lòng của kẻ khốn cùng – “phố đã vắng người qua kẻ lại, buồn sao là buồn đô thị chiều nay”.

Ai nghe tiếng hát não nùng, 
Có sót thương dùm (cho hai) cuộc sống đơn côi. 
(Mưa lạnh Thảo cầm viên – Viễn Châu) 

Những bài cải lương vọng cổ viết về những hành khất và để cho chính những kẻ ăn xin ca chổ chợ búa đông người, những bến xe đò xuyên tỉnh, bên cầu Bến Lức, sông Mỹ Thuận, bắc Vàm Cống, bắc Cần Thơ…. Đặc biệt là cho những hành khách xuôi ngược miền Tây trên những nẽo đường qua lục tỉnh từ sông Tiền đến sông Hậu. Tôi đã từng qua lại Tiền giang và Hậu giang bao lần nhưng đến bây giờ mới thấy thấm thía, thấu hiểu được…

Xa xa sóng biếc, bao la trời nước, 
Bến sông xanh lặng lẽ xuôi giòng. 
Ai đã gieo bao cung đàn tha thiết, 
Cho kẻ ly hương ray rức tơ lòng. 
(Tiếng độc huyền trên bắc Cần Thơ – Viễn Châu) 

<mục lục>


2. Chuyện đời

Nghe cải lương vọng cổ, ta vừa thưởng thức âm nhạc vừa ôn gẫm lý luận về Đời và có lẽ từ đó, ta hiểu được nhân sinh quan và triết lý về cuộc đời của nguời dân miền Nam.

Muốn sống cho ra một kiếp người, 
Đời còn cay nghiệt, lệ còn rơi. 
Mỗi khi thất vọng hờn nhân thế, 
Mở miệng thầm than một chữ đời. 

Vọng cổ: “Mỗi khi lỡ bước sa cơ người ta thường nói đầu xanh có tội, và mỗi khi cùng đường danh lợi thì người ta thuờng đổ cho vật đổi sao ... dời. Hễ vừa cất lên tiếng khóc tu oa thì người ta gọi là chào đời...”

Bằng giọng văn bình dân, bài hát cuối cùng kết luận: “Có đắng, có cay, có buồn, có khổ, nên người ta mới gọi nó là đời. Thôi thì còn đời ta cũng ráng sống mà chơi, đời thay đổi, ta cũng tùy cơ mà thay đổi.

Ðã sanh ra giữa đất trời, 
Đừng oán hận đời cho khổ trí lao tâm.” 
(Đời – Viễn Châu) 

Bài vọng cổ Tại tôi tuổi sửu có nhắc lại hai người thầy bói danh tiếng ở Sài gòn thập niên 60 – đầu 70 là Minh Nguyệt và (Maître) Khánh Sơn, ngoài ra người ta còn biết được chuyện đời qua tâm sự của một người nghèo ở Thị Nghè

Tôi sanh ra giữa cõi trần, 
Cũng tai cũng mắt miệng mồm như ai. 
Sao người thì được thảnh thơi, 
Còn tôi lại chịu suốt đời gian nan. 
… 
Trời sắp đặt mỗi người có số, 
Số mình nghèo nên cực khổ như trâu. 
Từ xuân sanh đến lúc muốn bạc đầu, 
Không có được một ngày sung sướng. 
… 
Ngờ đâu số mạng láng lai, 
Làm lụng tối ngày vẫn chẳng đủ nuôi thân. 
Cầm đồ mấy tiệm bình dân, 
Thảy đều biết mặt biết tên Văn Hường. 
… 
Tôi than trách rồi đổi thừa mạng số, 
Cũng tại mình sanh cái năm Kỷ Sửu nên nghèo. 

Người nghèo đó (Văn Hường ca) tự an ủi là phú quí do thiên và mỗi người sanh ra đều có số mạng

Nghèo cho sạch rách cho thơm, 
Là lời răng dạy thánh nhơn muôn đời. 
… 
Người sang nên dư để dư sài, 
Còn tôi tuổi sửu nên kéo cày suốt năm. 
(Tại tôi tuổi sửu – Viễn Châu) 

Gần như trong cả toàn bài vọng cổ Ông lão lái đò, người ta nghe thấy một triết lý sống qua những câu thơ, câu hò

Còn nước mơ màng, mây vẩn vơ, 
Thì còn lão với một con đò. 
Có tiền mua lấy vài chai rượu, 
Nhấp rượu xong rồi, lão gói thơ. 
Linh đinh, trời rộng sông dài, 
Ðò ngang một chiếc lần hồi sớm trưa. 
Chiều rồi nghĩ một chuyến đưa, 
Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò. 
Cơm ngày hai bữa cầu no, 
Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viễn vong, 
Ðời này có cũng như không, 
Sớm còn tối mất bận lòng mà chi. 
… 
Người ta đi ngược về xuôi, 
Kẻ ham phú quí, người đòi đỉnh chung. 
Lữ hành khi đã sang sông, 
Có ai còn nhớ đến ông chèo đò. 
… 
Mặc dù tuổi đã già nua, 
Vẫn còn chèo nổi con đò sang sông. 
Tai còn tỏ mắt còn tinh, 
Bàn chuyện nhân tình, lão chẳng nhượng vì ai. 
…. 
Hơi thu lạnh gió đưa hàng lao lách, 
Nữa chiều rồi đò vắng khách sang sông, 
Ngồi trầm ngâm nhìn nước bạc xuôi dòng, 
Lão bổng thấy cõi lòng sao trống trải. 
Chim bay về núi tối rồi, 
Lão lo xúc gạo rửa nồi nấu cơm, 
Bình minh rồi lại hoàng hôn, 
Năm cùng tháng hết, lo buồn mà chi. 
Sự đời sanh ký tử qui, 
Mới xuân sanh đó, già thì đến nơi, 
Sông dài mấy bận đầy vơi, 
Thế gian mấy bận, đổi vời trắng đen. 
… 
Chuyện đời như cánh phù du, 
Sớm còn tối mất dạ sầu mà chi, 
Sang giàu như án mây bay, 
Mới vừa thấy đó phủi tay không còn. 
Hò ớ… 
Nước giữa dòng có khi trông khi đục, 
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh. 
Gẫm ai vô sự như mình, 
Ðò nghang một chuyến… hò ớ… 
Ðò nghang một chuyến, mặc tình nắng mưa. 
Thân già gạo chợ nước sông, 
Khoẻ thì đưa khách, mệt nằm xả hơi. 
Sang giàu mặc kẻ đua bơi, 
Công danh như thể bèo trôi giữa dòng. 

Đó là triết lý sống của kẻ nghèo mà thanh bạch không màng danh lợi và bài hát kết thúc bằng hai câu hò về hình ảnh ông lão lái đò

Còn trời còn nước còn sông, 
Còn cây đa cũ, còn ông chèo đò. 
(Ông lão lái đò – Viễn Châu) 

Nghe những lời ca này – đúng ra là một bài thơ dài ngâm theo kiểu Lục Vân Tiên – ta thấy phảng phất những âm điệu và lời thơ của cụ Nguyễn Đình Chiểu, qua một phong cách “trọng ngỡi khinh tài” dửng dưng với thế sự và ta khám phá được một phần nào về văn hóa Đồng Nai Bến Nghé (4). Cải lương phản ảnh được cuộc sống và tâm hồn của người dân đất Nam Kỳ lục tỉnh!

Trong cải lương luân lý nề nếp gia đạo nhiều lần được nhắc đến. Người mẹ khuyên đứa con gái trước khi đi lấy chồng trong bài Mẹ dạy con

Con ơi! Hãy nhen bếp lửa kẻo đêm dài giá lạnh, 
Khơi than hồng sưởi ấm túp lều tranh. 
Rồi con hãy xích lại gần đây để nghe mẹ phân trần, 
Lời giáo huấn trước ngày con xuất giá. 

Đọc qua mấy câu thơ bài vọng cổ, đôi khi ta cứ tưởng là những bài công dân giáo dục, những bài học thuộc lòng của trẻ thơ:

Trong gia đạo phải kính nhường thuận thảo, 
Ngoài xóm giềng phải lui tới viếng thăm. 
Bà con xa không bằng lối xóm ở gần, 
Khi tối lửa tắt đèn nên giúp đỡ. 

Bà nhắc nhở đứa con gái từ công ngôn dung hạnh đến tứ đức tam tùng và từng chi tiết nhỏ về cách đi đứng, xử sự, việc nội trợ…

Mâm bàn dọn dẹp đã xong, 
Then gài, cửa đóng, đề phòng kẻ gian. 
Nồi cơm, trách cá lo toan, 
Chó treo, mèo đậy, kẻo mang vụng về. 
… 
Mai đây con phải theo chồng, 
Mấy câu giáo huấn mựa đừng đơn sai. 
(Mẹ dạy con – Viễn Châu) 

Nghe qua câu thơ trong bài Nhớ Mẹ khiến người nghe nhớ lại hình ảnh quê hương với tình mẫu tử muôn đời.

Nhớ một buổi về thăm quê ngoại, 
Khắp bốn bề lửa cháy nhà tan, 
Mẹ với con khi đến cổng làng, 
Còn lưu luyến mái tranh nghèo nơi xóm nhỏ. 
… 
Năm nay con lớn khôn rồi, 
Trở về quê cũ mẹ thời còn đâu, 
Mẹ đà khuất bóng ngàn dâu, 
Biết ai lau hộ dòng châu thâm tình? 
(Nhớ Mẹ – Viễn Châu) 

Những câu thơ trong bài Buồng cau quê ngoại nhắc ta nghĩ đến bà ngoại quê trồng trầu ươm cau

Chiều chiều ngước mặt lên trời, 
Trông bầy cò trắng bay về nơi nao, 
Ngập ngừng tay xách buồng cau, 
Muốn về quê ngoại biết đâu mà về. 
… 
Buồn nào hơn buồn đi xa xứ, 
Nhớ nào bằng nhớ tổ nhớ tiên. 
Thuở hàng cam nhỏ còn sai trái, 
Có bờ chuối xanh cao bên mấy nọc trầu già. 
… 
Có trầu mà lại thiếu cau, 
Lạt tình lạt nghĩa lạt màu son tươi, 
Đường về quê ngoại xa xôi, 
Buồng cau mang nặng tình ai thương chờ. 
Chiều chiều ra đứng bờ ao, 
Trông về quê ngoại ruột đau chín chiều. 
Đường không cách trở bao nhiêu, 
Cò bay thì được tôi về thì không. 
… 
Thời gian ơi hỡi thời gian, 
Phải chăng quê ngoại đã tàn về xưa, 
Bà không sợ gió ngại mưa, 
Mà buồn ngăn cách mà sầu chia phôi. 
… 
Ai dầu xa xứ bao lâu, 
Đừng quên bóng ngọai trồng trầu ươm cau, 
Con cò cất cánh bay mau, 
Nhìn theo mà nhớ đường về quê hương. 
(Buồng cau quê ngoại – Thu An) 

Bài Đời nghệ sĩ nói lên nổi niềm của người mang nghiệp dĩ của kiếp tầm – “đêm từng đêm họ rút ruột nhả tơ dâng tặng cho đời”

Khi cánh màng nhung khép lại rồi, 
Chỉ còn hiu hắc nổi đơn côi, 
Xiêm y trả lại cho sân khấu, 
Cả những niềm vui lẫn ngậm ngùi. 
… 
Rồi khi thanh sắc không còn nữa, 
Son phấn tàn phai buổi xế chiều. 
Giã từ sân khấu ai còn nhớ, 
Một đời nghệ sĩ kiếp cầm ca. 
(Đời nghệ sĩ – Viễn Châu) 

Trong bài Xuân đất khách nói lên tâm trạng của một kẻ xa nhà nhìn cảnh người ta tiễn nhau tại phi trường “kẻ vẫy khăn tay chào người ở lại, kẻ vội vàng nhấc mớ hành trang” mà mong đợi ngày về quê hương.

Con chim sắt đã lao mình trong khói trắng, 
Bỏ lại nơi nầy tâm sự kẻ ly hương. 
Tôi đứng đây để mà nhớ mà thương, 
Mà chờ đợi ngày về trong mộng tưởng. 

Tác giả tự ví mình như Kinh Kha tráng sĩ từ biệt Thái tử Đan bên bờ sông Dịch ra đi mà không hẹn ngày về: “Phải chăng đất Việt trời Âu có cách ngăng một bờ Dịch Thủy, nên một lần đi là khó thể quay … về.”

Chưa một lần ngâm tráng sĩ hề, 
Nên lòng cứ mãi nhớ thương quê. 
Mùa xuân về nữa, xuân về nữa, 
Tuyết trắng rơi nhiều, dạ tái tê. 

Người Việt Kiều ở Pháp này hàng năm gần dịp Tết mà “trời Ba Lê lạnh lùng mưa tuyết đổ” lòng càng nhớ quê cảnh đón xuân ở quê nhà : “Mỗi bận xuân sang tôi thấy lòng se lại, nhớ làm sao hương vị của quê… nhà. Dưa hấu miền đông với bưởi ngọt Biên Hòa, rượu Bà Điểm nem chua Thủ Đức, cam Long Thành măng cục Lái Thiêu. Múi sầu riêng ngon ngọt biết bao nhiêu, cơm nấu gạo nanh chồn thơm bát ngát, mùi hương khói lẫn trong tiếng pháo, mấy cành mai nở rộ đón giao thừa.”

Mùa xuân năm trước hẹn mùa xuân tới, 
Xuân năm nầy lại hẹn đến xuân sau. 
Âm thầm năm tháng qua mau, 
Xuân này đến nữa là bao xuân rồi. 
Nóc giáo đường lạnh lẽo đứng trơ vơ, 
Vài chiếc lá dật dờ bay trước gió. 
Tuyết rơi trắng xóa chân cầu, 
Mùa xuân đất khách ai sầu hơn ai. 
(Xuân đất khách – Viễn Châu) 


<mục lục>


3. Truyện xưa tích cũ 

Qua cải lương, ta còn được ôn lại tích xưa trong truyện Tàu: trong truyện Thuyết Ðường, Tần Quỳnh (Tần Thúc Bảo) khuyên người em kết nghĩa là La Thành vì theo lịnh vua mà xử trảm nhị ca Ðơn Hùng Tín. Bài hát Tần Quỳnh khóc bạn mở đầu bằng mấy câu thơ mở màn giới thiệu

Nghe hung tín Nhị Ca đà thọ khổn. 
Hồng Đào San em quay ngựa trở về đây. 
Kìa! Giữa pháp trường cát bụi mù bay, 
Quân đao phủ sắp ra tay hành quyết… 
(Tần Quỳnh khóc bạn – Viễn Châu) 

Và tiếp tục một cách dục giả bằng câu vọng cổ diễn tả sự khẩn trương can ráng: “Khoan khoan, hãy để anh cạn phân đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La... Thành. Thôi rồi một lưỡi gươm đưa đã dứt mạng anh hùng. Đơn Nhị Ca ơi còn đâu một đời ngang dọc, quyết vẫy vùng cho rõ mặt núi sông. Nhớ năm xưa cùng nhau thề câu chị ngã em nâng, dẫu tử sanh quyết vẹn nghĩa kim bằng. Thế mà hôm nay u hiển đôi phang, giữa pháp trường chia tay vĩnh viễn…”

Tần Quỳnh kể lể lúc xưa tại Tam Hiền Quán, bạn bè khắc máu ăn thề, kết nghĩa đệ huynh “rượu đoan thề hơi men còn phảng phất đầu môi”, mà bấy giờ giữa cảnh pháp trường “chén rượu năm xưa kết giao tình bạn hữu, chén rượu ngày nay dứt đoạn nghĩa kim bằng”.

Hùm dầu thác danh thơm còn chói rạng, 
Sá chi điều mũi đạn lằn tên. 
Ơn Nhị Ca bảo bọc mấy năm trường, 
Công hoạn dưỡng chưa báo đền muôn một. 

Tần Quỳnh ôm thây thể nhị ca mà than rằng: “Tiền đồng tịch kim bằng cộng lạc, Hậu lâm nguy bất kiến đệ huynh”. Nhớ ngày xưa bạn bè cùng chia sẻ niềm vui, bây giờ gặp cảnh lâm nguy anh em không thấy mặt – một thảm cảnh huynh đệ bi lụy, thật là cổ điển !

Truyện Tây Du ký được nhắc lại trong bài Tề Thiên Đại Thánh khi Phật Tổ Như Lai nhốt giam Tề Thiên trong núi Ngũ hành Sơn, “khi đắc thế thì vương oai diệu võ, lúc hết thời thì núi nọ đè lên”.

Núi Hoa Quả sinh Tề Thiên Đại Thánh, 
Nay bị đè dưới ngọn Ngũ Hành Sơn. 
Bớ Đường tăng, hãy cứu mạng Lão Tôn, 
Gỡ phức đạo bùa linh đang yểm trấn. 

Tề Thiên kể lể thành tích của mình để năn nỉ và thuyết phục Đường Tăng

Quơ thiết bản trổ tài biến hóa, 
Cân đấu dâng lên đại náo thiên cung. 
Bởi Lão Tôn vốn có phép thần thông. 
Hú một tiếng thiên đình còn rúng động. 
… 
Khỉ này đâu phải khỉ hoang, 
Thiên cung đại náo Ngọc Hoàng cũng kiên. 
Phong làm Đại Thánh Tề Thiên, 
Trở về hạ giới thành tiên một đời. 

Và hứa sẽ một lòng trung thành hộ tống Đường Tăng trên đường tây du thỉnh kinh

Lão Tôn (sẽ) hộ Tống cho thầy, 
Vượt núi băng rừng (qua) Đông Độ thỉnh kinh. 
(Tề Thiên Đại Thánh – Viễn Châu) 

Bài Hận Kinh Kha tả cảnh Thái tử Đan (người nước Yên) từ biệt tráng sĩ Kinh Kha trên bờ sông Dịch để lên đường về Hàm Dương để giết Tần Thủy Hoàng.

Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn, 
Đây ngày tang tóc của Yên bang. 
Gió chiều trở lạnh buồn sông núi, 
Tân khách muôn người lệ chứa chan. 

Bài hát được tiếp tục bằng câu vọng cổ: “Gió heo mai lạnh lùng sông Dịch thủy, tiễn đưa ai mưa gió lạnh quan… hà. Một chuyến ra đi là mãi mãi không về. Rượu chia ly mừng say lòng tráng sĩ, cạn chung rồi chia cách dặm đường xa.”
... 
Sương hiu hắc trên con thuyền lướt sóng, 
Chén men nồng chưa ấm dạ chinh nhân. 
Mang gươm thề vào tận đất Hàm Dương, 
Xin vĩnh biệt lên đường không trở lại. 
… 
Trời Yên quốc lửa bừng lên sắc máu, 
Lệ căm hờn chảy đọng thành băng. 
Nghìn thu sau ai có nhớ cho chăng, 
Gương tráng sĩ với tấm lòng dũng cãm. 
Một chuyến đi trời sầu đất thảm, 
Tiếc thương ai tiếng khóc vọng ngang đầu. 

Bài ca mở đầu bằng câu “Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn” trong bốn câu thơ tứ tuyệt và được kết thúc bằng hai câu lục bát:

Ra đi ta chẳng hẹn về,
Tuốt lưỡi gươm thề vào tận đất Hàm Dương. 
(Hận Kinh Kha – Viễn Châu)

Nghe xong, ta nhớ đến một đoạn trong truyện Thích khách liệt truyện (Sử Ký Tư Mã Thiên): Trước khi lên đường, tráng sĩ Kinh Kha tóc trên đầu dựng đứng và ngâm hai câu thơ 

“Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn, 
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.” 
(Gió hiu hắt thổi, nước sông Dịch lạnh, 
Tráng sĩ một lần ra đi không trở về)

Nếu ta cho rằng cải lương nôm na bình dân chẳng qua là mình không nhớ đến điển tích xưa!

Bài Vợ Chồng Cua tả về đọan Sở Vương quan sát cảnh sinh hoạt của vợ chồng cua

Vua nước Sở một hôm lòng thanh thản, 
Cởi long bào giả dạng một thường dân, 
Vác cần câu ra ngồi dựa thạch bàn, 
Lòng vương giả mơ màng theo sóng nước. 

cảm kích trước tấm tình cua đực với cua cái, nhà vua nhắc lại luân lý xã hội: “nhất dạ đồng sàng hề chung dạ ái, nhất nhật phu thê hề bá dạ ân”, mà càng ngán ngẫm cảnh cua cái bạc tình mà than thở rằng

Hỡi bể rộng trời cao! 
Đàn bà lòng dạ hiểm sâu, 
Ngoài môi lại nói những câu chung tình. 
… 
Ôi! Ngán ngẫm bấy ân tình thế thái, 
Não nùng thay, tối độc phụ nhân tâm. 
Lòng Sở Vương như muối xát kim châm, 
Giận bấy kẻ ân tình không giữ trọn. 

Để thử lòng dạ tất cả đàn bà trong Sở quốc, người ra lệnh nếu ai có can đảm giết chồng đem thủ cấp dâng lên thì…

Được ban nhất phẩm phu nhân, 
Lụa là gấm vóc, vàng ròng mười xe. 
Từ trong thành nội ban ra, 
Chiếu vua nước Sở gần xa đặng tường. 

Chưa đầy nữa tháng có nhiều thủ cấp dâng nạp triều đình. Nhà vua dằn lòng căm giận, nhưng cũng truyền một chiếu thứ hai, nếu có ai can đảm giết vợ, nhà vua sẽ phân chia nửa giang san. Cả năm lặng lẽ trôi qua, một ngày kia có một gã nông phu nghèo khổ xin nhận gươm báu về nhà để giết vợ. Nhưng về đến nhà anh không đành lòng ra tay và xin chịu tội với vua. Sở Vương ngợi khen và truyền đem châu báo ban thưởng

Cho hay trong đạo vợ chồng, 
Biết ai chung thủy, ai lòng bạc đen. 

Bài hát bình dân về tích xưa có vẻ trọng nam khinh nữ (và có thành kiến về giới tính!) nhưng nói lên bài học luân lý cũ làm người nghe vừa thưởng thức vừa nghiền ngẫm tích xưa.

Bài Quan Công Tha Tào Tháo nhắc lại chuyện quân Ngụy bị mai phục cùng đường tại Huê Dung Đạo, Tào Tháo biết Quan công là một bậc nghĩa khí trung cang – “cùng khấu bất sát, hạ mã bất tru” (không giết người cùng đường, không chém người dưới ngựa) – nên van xin để khỏi chết. Tào nhắc lại ân tình cũ: lúc Quan Công thất thủ tại Hạ Bì, Quan Vân Trường đưa Nhị tẩu (hai vợ của Lưu Bị) nương náo tại đất Ngụy, Tào đối xử tốt đẹp để mua lòng “Tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến. Thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân” (Ba ngày tiệc nhỏ, bảy ngày tiệc lớn. Lên ngựa tặng vàng, xuống ngựa tặng bạc) và tặng một đãi gấm để bọc râu Vân Trường để khỏi lạnh lúc mùa đông. Tào lại nhắc đến lúc Vân Trường hay được tin tức Lưu Huyền Đức, bỏ Tào ra đi không lời từ giả và chiến tích “quá ngũ quan trảm lục tướng” (qua năm cửa ải, chém sáu tướng)

Chắc (tại kiếp) xưa Tào có công tu, 
Nên nay mới gặp Quan Hầu xót thương. 
Tha cho Tào sống một phen, 
Ơn sâu nghĩa nặng Tào mang trọn đời. 

Trước cảnh van xin kể lể của Tào Tháo và mặc dù Châu Thương (con nuôi của Quan Công) một lòng đòi giết, Quan Công nhắc lại câu “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”, nghĩ đến ơn cũ mà tha tội và nói với Tào Tháo

Gió câu sông lướt dặm dài, 
Ta chúc cho Ngài thượng lộ được bình an 
(Quan Công Tha Tào Tháo – Viễn Châu) 

Cũng cùng đề tài, trong bài Tào Tháo cháy râu trận Xích Bích vì bị hỏa công mà quân Tào phải thua trận: “Lau lệ đưa mắt nhìn về Tam giang khẩu một dãy Trường giang khói lửa mịt ... mờ”.

Tất cả đã tiêu tan vì lửa đỏ, 
Đã chìm sâu dưới đáy Trường giang, 
Còn lại mình Tháo đây vượt suối băng ngàn, 
Về Hứa Đô với cõi lòng uất hận. 
(Tào Tháo cháy râu – Trần Hà) 

Sau trận Xích Bích, tại Hạ Bì quân Trương Phi cướp lương thực và đám tàn quân của Tào chạy đến Huê Dung đạo thì bị quân của Quan Vân Trường mai phục. Tào nhắc lại ước mơ “bắt Nhị Kiều tuyệt sắc đem về đài Đồng tước trên bến sông Chương để cùng Tháo ngày đêm vui hưởng cái xuân… già”. Bài hát nhắc đến hai câu thơ

Đông phong bất dữ Chu lang tiện, 
Đồng tước xuân thâu tỏa Nhị Kiều. 

Đây là hai câu trích trong bài tứ tuyệt Xích Bích hoài cổ của Đỗ Mục:

Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu, 
Tư tương ma tẩy nhận tiền triều. 
Đông phong bất dữ Chu lang tiện, 
Đồng tuớc xuân thâm tỏa nhị kiều. 

Giáo dìm dưới cát chưa mòn, 
Rửa ra còn rạng nét son tiền triều. 
Gió đông nếu chẳng thuận chiều, 
Đêm xuân Đồng Tước hai Kiều bị giam. 
(Vịnh trận Xích Bích – Lý Hữu Phước phỏng dịch) 

Soạn giả còn trích hai câu thơ của Tào Mạnh Đức (tên chữ của Tào Tháo là Mạnh Đức) trong bài vọng cổ “… trong một đêm trăng vàng bảng lãng, Tháo cầm ngang ngọn giáo đứng trước mũi thuyền cao hứng ngâm câu:”

“Minh nguyệt tinh hy, 
Ô thước nam phi” 
(trăng sáng sao thưa, 
quạ bay về nam.) 

Nghe bài cải lương vọng cổ để vừa giải trí vừa ôn lại điển tích xưa và tìm hiểu thêm về thi ca cổ.

Sử tích Chiêu Quân cống Hồ đã có nhiều tác phẩm kim cổ đề cập, kể cả kẻ thất tình Hồ Dzếnh trong bài Nổi buồn Chiêu Quân [NBCQHD]. Bài vọng cổ Hán Đế biệt Chiêu Quân cũng nhắc lại tích này:

Trống chiêng giục giã lời ly biệt, 
Cây cỏ còn đau nỗi đoạn trường. 
Một thuở ra đi sầu vạn kiếp, 
Hoa lòng héo hắt mộng lòng tan. 
Tỳ bà bặt tiếng tình ly cách, 
Một dãi sông xanh lệ mấy hàng. 
Sương khói chiều nay mờ ải vắng, 
Lệ tình ướt đẫm Nhạn Môn Quan. 
(Hán Đế biệt Chiêu Quân – Viễn Châu) 

Trong Trống loạn Thăng Long thành, trước sự tấn công vũ bảo của quân Pháp, Tổng đốc Bắc thành Hoàng Diệu cổ võ quân sĩ

Tim người đựng mấy nguồn thương, 
Trần gian có mấy con đường nhục vinh. 
Hãy tìm cái chết hùng anh, 
Dù tan sương thịt, uy danh để đời. 

Nhưng trước sức giặc mạnh như mưa cuồng thác lũ, cửa thành phiá Nam bị tan vỡ và cuối cùng Thăng Long thất thủ và Hoàng Diệu tuẫn tiết

Hãy trình tâu lại đức Vua, 
Rằng ta Hoàng Diệu không về nữa đâu. 
Thăng Long đã mất từ lâu. 
Tây thi này cũng vùi sâu đáy mồ. 
… 
Còn viên Tổng đốc nhà Nam, 
Thành tan thì xác cũng tan theo thành. 
Khi nghe nhịp trống trường đình, 
Mơ hồi trống loạn mà tìm tên ta. 
(Trống loạn Thăng Long thành – Thu An) 

Cách hành văn trong bài cải lương là các văn xuôi theo nhịp điệu của nhạc và pha lẫn với thơ, mà phần nhiều là thơ lục bát và Đường luật. Trong bài hát Võ Đông Sơ & Bạch Thu Hà (5), giữa chốn sa trường Võ Đông Sơ bị thọ tiễn, có lời lẽ trăn trối với người yêu Bạch Thu Hà. Đọc và xếp đặt lại lời trong bài hát, ta thấy rõ ràng đó là bài thơ tuyệt mạng lâm ly thấm thiết của một người tình chung thủy.

Ta cảm thấy một vùng trời đất hình như đảo lộn, 
máu đào tuôn ướt đẫm nhung bào. 
Ta gọi tên em trong tiếng nấc nghẹn ngào. 
Đây mới thật là lần chia ly vĩnh viễn, 
hết mong gì gặp gỡ cùng nhau. 
Rượu ly bôi ngày ấy tiễn anh đi, 
hoa lá bay theo vó ngựa phi. 
Có biết đâu buổi tiễn đưa hôm ấy 
là buổi chia ly nàng chờ đợi mà chi. 

Ta cảm thấy máu ngừng trong nhịp thở, 
rút gươm Thiêng mà dòng lệ tuôn sa. 
Khắc vào cây ba chữ “Bạch Thu Hà”, 
để kỷ niệm ngày ta không gặp nữa. 
… 
Lá rừng rơi rụng như mưa, 
phải chăng xây hộ nấm mồ cho ta. 
Máu hồng theo lệ tuôn sa, 
nhắc câu chung thủy lòng ta nghẹn ngào. 

Máu đào tuôn đẫm ướt nhung bào, 
chí anh hùng vùi trong kiếm đao. 
Bóng chiều rơi cuối nẻo biên thùy, 
ta thấy miền xa rủi cánh quân đi. 
… 
“Thôi thôi, lỡ làng tiếng hẹn trăm năm, từ đây nàng có nhớ đến ta, hãy ngâm câu túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi…” 
(Võ Đông Sơ & Bạch Thu Hà – Viễn Châu) 

Trong bài này hai câu thơ Hán Việt trên trích từ trong bài tứ tuyệt Lương Châu Từ của Vương Hàn

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, 
Dục ẩm, tì bà mã thượng thôi. 
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, 
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. 

Rượu ngon trong chén sứ ngà, 
Uống nhanh!, tiếng nhạc hối ta lên đường. 
Nằm say chiến địa đừng cười ! 
Từ xưa xuất trận, bao người về đâu? 
(Bài ca Lương Châu – Lý Hữu Phước dịch) 

Nghe cải lương người ta tưởng tượng ra hình ảnh xa xưa: Đêm Xuân người thiếu phụ bên khuê phòng nhớ đến người chồng ngoài biên ải đang theo đuổi công hầu sự nghiệp.

Xuân đã về đây, hỡi cố nhân, 
Hoa xuân nở rụng đã bao lần. 
Lửa binh từ độ mù biên ải, 
Thổn thức cung đàn lạnh khối chăn. 

Có nhớ chăng người quan ải xa, 
Đêm đêm bàn bạc ánh trăng ngà. 
Sông thưa có kẻ ngồi nhung nhớ, 
Lẻ bóng đêm tàn dạ thiết tha. 

Nàng ôm đàn lên dạo lại bản khúc Phượng cầu [PCH] xưa và nâng chén rượu mà nhớ đến chồng: “chén ly bôi chúng mình đã uống cạn nhưng chén tao phùng còn hẹn mấy mùa xuân”.

Đêm xuân có kẻ mơ màng, 
Hoa rơi chưa tỉnh nguyệt tàn chưa hay. 
(Đêm Xuân đợi chàng – Viễn Châu) 

Bài vọng cổ chứa đựng tương tự một hình ảnh của người thiếu phụ ngây dại trong Đường thi, bên khuê các thấy cảnh ngày xuân mới chợt nhớ đến chồng đang đánh giặc ở miền xa để đeo đuổi phong hầu khanh tướng.

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu, 
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu, 
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, 
Hối giao phụ tế mạch phong hầu. 
(Khuê Oán – Vương Xương Linh) 

Lầu son thiếp biết chi sầu, 
Ngày xuân trang điểm bên lầu soi gương, 
Chợt nhìn cành liễu bên đường, 
Tiếc chàng mãi chốn sa trường tìm danh. 
(Lời oán khuê nữ – Lý Hữu Phước phỏng dịch) 

Qua cổ nhạc cải lương ta liên tưởng đến cổ thi – quả là có sự liên hệ về văn chương giữa nhạc và thơ!

Chùa Thiên Mụ tại cố đô Huế đã chứng kiến chứng kiến những ngày tháng đấu tranh của phong trào Cần Vương

Vài khóm trúc nghiêng mình soi mặt nước, 
Dưới sương mờ xuôi ngược chiếc thuyền nan. 
Đế Đô xưa qua những phút kinh hoàng, 
Chùa Thiên Mộ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. 

Cuộc khởi nghĩa chống Pháp này thất bại, nên chàng thanh niên kiêu hùng không trở lại và khiến người yêu “nữa chừng xuân sớm chịu cảnh ly tan” nên đã gởi thân vào cửa Phật.

Hồi chuông Thiên Mụ vang vang, 
Hắt hiu khói núi mịt mù đồi thông. 
Bồ đề rụng lá bên sông, 
Có nàng sư nữ chờ mong một người. 
(Hồi chuông Thiên Mụ – Viễn Châu) 

Trong bài Đò chiều biên giới, Minh Cảnh thủ vai một nhà sư còn Út Bạch Lan đóng vai một thiếu nữ với gia đình tan nát vì chiến tranh nên định trầm mình dưới dòng sông cạnh bên chùa

(Nhà sư) 
Chuông chiêu mộ dóng lên điều cảnh tỉnh, 
Lá bồ đề rơi rụng trước tam quan, 
Ánh trăng rằm soi sáng cửa thiền môn, 
Lòng bần đạo chưa khuây sầu nhân thế. 
… 
(Thiếu nữ) 
Phật tự giăng rền những tiếng chuông, 
Lòng ta như liệm bởi đau buồn, 
Đời không hạnh phúc tình vô vọng, 
Nữa kiếp phong trần lệ thấm tuôn. 

Nhà sư khuyên can người thiếu nữ “Sơn trung tự hữu thiên niên thọ, thế thượng thường vô bá thế nhân” và cuối cùng người thiếu nữ qui y tại chùa

(Thiếu nữ) 
Dưa muối bao ngày dứt trái duyên, 
Trần quan gữi lại cửa am thiền. 
Đêm nay bổng thấy hồn sao xuyến, 
Khi ánh trăng rằm dọi mái hiên. 
… 

Sau đó ít lâu, người thiếu nữ thấy lòng chưa xóa hẳn bụi trần, muốn tìm lãng quên trong máu lửa gai chông và theo nghĩa quân của Lê Lợi để chống quân Minh xâm lăng.

(Thiếu nữ) 
Ngưng chuông mỏ bước lên đường sứ mạng, 
Lưỡi gươm vàng ẩn sau lớp cà sa. 
Nghe đâu đây gió động khóm lau già, 
Chèo khuấy nước một con đò lướt sóng. 
… 
Hò ớ… ơ 
Sông điều hiu nhuộm nắng chiều biên giới, 
Nhẹ mái chèo vượt tới bến Đà giang. 
Lá rơi bởi lá thu vàng, 
Máu rơi bởi giặc, hò ớ… ơ 
Máu rơi bởi giặc tham tàn nhiểu nhương. 

Cuối cùng người thiếu nhận chìm đò giết giặc rồi nàng cũng dùi thây xuống dòng sông Đà.

(Nhà sư) 
Bần tăng rảo bước lên đường, 
Lòng vương bao nỗi hận trường khôn nguôi. 
(Đò chiều biên giới – Viễn Châu) 

Bài vọng cổ Khóc Bàng Phi nhắc lại tích vua Tống Nhân Tông (1022–1063) buộc lòng phải ra lịnh xử tử nguời cung phi yêu dấu Bàng Quí Phi 

Nàng bỏ ta rồi hởi ái khanh, 
Đem ân tình trả nợ ân tình. 
Gục đầu ta khóc câu tương biệt, 
Người ngọc bây giờ gọi cố nhân. 
… 
Đời người được mấy mùa xuân, 
Trời còn đem cảnh bảo bùng mà chi. 
Gục đầu cúi lệ tràn mi, 
Ta còn ở lại Vương phi đâu rồi. 
… 
Ta nghe từng giọt sương rơi, 
Ngỡ đâu giọt lệ đời vơi nhất hàng. 
… 
Để cho nát ngọc tan vàng, 
Tội của ai làm lại kể tội Bàng Phi. 
(Khóc Bàng Phi – Viễn Châu) 

<mục lục>


4. Tôn giáo

Trong bài Thích Ca tầm đạo, bài học giáo lý về sự tích đạo Phật được nhắc đến: Thái tử Sĩ Đạt Đa trong chuyến du ngoạn ngoại thành đã chứng kiến cảnh tứ khổ sanh lão bệnh tử của kiếp người qua bốn cửa thành nam, bắc, tây, đông:

(Sa Nặc) Thái tử ơi, 
Cõi phàm nhân hoàn cuộc bể dâu, 
Lão sanh bệnh tử lắm cơ cầu, 
(Thích Ca) Xả thân ta nguyện lìa cung các, 
Tầm ánh đạo vàng diệt khổ đau. 

Trong đêm khuya, Ngài với gói hành trang trốn khỏi hoàng cung để tìm chân lý cứu đời đang đắm chìm trong cảnh khổ đau

(Thích Ca) Công Chúa ơi, Công Chúa ơi, 
Tình nghĩa đôi ta đã hết rồi, 
Hãy khóc cho vơi sầu mắt biếc, 
Tạ từ trong một buổi chia phôi. 

Người vợ của Ngài có lời can gián

(Công Chúa) Thế gian còn nhiều tan tóc thê lương, 
Biết đâu là nẽo tình thương mà tìm. 
Lạnh cung trời nhỏ giọt sương đêm, 
Hãy ở lại với cung vàng điện ngọc. 
Cho em hưởng giấc Xuân nồng, 
Nghĩa vợ tình chồng tròn nợ gói chăn. 
… 
(Thích Ca) Ta đã nguyện rồi Công chúa ơi! 
Đem thân hỷ xã hiến cho đời, 
(Công Chúa) Đêm nay có phải đêm ly biệt, 
Em khóc ân tình tan vỡ thôi. 

Nhưng sau cùng bà hiểu được đức độ của đức Phật Thích Ca

(Công Chúa) Chàng đi tìm ánh đạo vàng, 
Giải thoát nhân hoàn qua bể khổ sông mê. 
(Thích Ca tầm đạo – Viễn Châu) 

Cải lương vọng cổ cũng là soap opera: khi người ta thất vọng não nề ở đời, họ hướng về tâm linh đạo lý. Người con gái thất bại trong đường tình, tìm về kinh kệ để Nguyện về cõi Phật

Đường về nhà đạo xa xôi, 
Đường theo cuộc thế, ôi thôi đoạn trường. 
Vướng vào trong cõi bi thương, 
Trăm ngàn nỗi thảm, vấn vương bên mình. 
… 
Cuộc nhân thế như thường ảo mộng, 
Chuỗi thời gian tựa bóng bạch câu. 
Kiếp người tạo thảm, gây sầu, 
Nghiệp căn chồng chất, sâu vời càng sâu. 
… 
Lên xe xuống ngựa nhộn nhàng, 
Mua danh tranh lợi, trăm ngàn chước mưu. 
Lướt đời lệ mấy khi khô, 
Trăm năm rồi cũng trắng tay xuống mồ. 
… 
Khua chuông cảnh tỉnh giấc mơ, 
Gọi người đau khổ sang bờ nhàn an. 
(Nguyện về cõi Phật – Trọng Tâm) 

Tôi vẫn còn nhớ tiếng ca của nghệ sĩ Minh cảnh trong bài Tu là cội phúc cũng về người con gái thất tình chán đời gặp sư cụ và tỏ ý muốn đi tu. Bài hát được bắt đầu bằng bốn câu thơ:

“Ai nức nở quỳ bên chánh điện, 
Khi chuông chùa vừa điểm tiếng công phu. 
Tín nữ ơi, nguyên do nào người muốn đi tu, 
Vui kinh kệ và quen mùi khổ hạnh.” 

Tiếp theo đó là sư cụ giải thích cho người thiếu nữ bằng câu vọng cổ: “Nhưng tín nữ đi tu làm sao cho thành chánh quả, bởi làn phấn son còn in rõ trên đôi má dạn phong... trần. Người đã giác ngộ hay vẫn vướng nợ trần. Người đi tu vì chán mùi chung đỉnh, và cảm thấy cuộc đời là hố thẳm, ghềnh sâu. Hay là vì một phút giận hờn, ghen tức, khổ đau, tín nữ mới toan mượn cửa am thiền, để chôn lấp mạch sầu thương, và phôi pha nỗi niềm đau khổ.”
… 
Nam Mô A Di Đà Phật. 
Tóc chưa bạc đừng ngăn giòng nhiệt huyết, 
Người còn xuân đừng tính việc đi tu. 
Dẫu đời người tỉ như cánh phù du, 
Nhưng còn sống ta vẫn còn tranh đấu. 

Nhà sư có nhắc đến “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” (5), “Tâm tức Phật, Phật tức tâm” và cuối cùng khuyên người thiếu nữ:

“Tu đâu cho bằng tu nhà, 
Thờ cha kính mẹ hơn là đi tu.” 
(Tu là cội phúc – Viễn Châu) 

<mục lục>


5. Tình yêu

Tình yêu là đề tài chính trong cải lương và tiêu biểu cho chuyện tình là có Tình Lan và Điệp. Bài hát được bắt đầu bằng mấy câu hát điệu Lý con sáo

Hoa bay theo… gió cuốn rụng đầy sân rêu, 
Nhìn hoa tàn rụng rơi, 
Lan bâng khuâng tê tái tâm hồn. 
Bởi bao cay đắng dập dồn, 
Tình đầu vừa tan… theo khói sương. 
Lan khóc than trong tháng năm sầu thương. 
Mùi thiền đành quen theo câu muối dưa, 
Mong lãng quên khổ đau ngày xưa… 

Mối tình buồn muôn thưở này được tóm tắc bằng mấy câu:

Điệp ơi! Lan xa Điệp để âm thầm đau khổ 
Điệp hiểu dùm cảnh ngộ của Lan không? 
Muôn đắng cay với tâm sự não nùng 
Ai giữ được tim lòng không rạn vỡ. 
…. 
Ðiệp ơi còn nhớ đến Lan không? 
Thiền môn thăm viếng bạn lòng mà chi? 
Từ ngày lỡ mối tình si, 
Thân em gởi cửa từ bi trọn đời. 

Những lời trăn trối cuối cùng của Lan cho Điệp làm cho ta nhớ lại rõ ràng nguyên tác Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan mà bài cải lương mô phỏng, qua lời nhạc vần điệu buồn bả như là bài thơ tình vĩnh biệt: “Xác bướm cành lan em đã dùi chôn lấp một đời hoa trong mõ sớm chuông chiều. Phật tự sầu ai cũng hoang vắng tiêu điều. Nơi liêu trung, sau giờ sám hối, ngọn đèn tàn gió thổi hắt hiu. Ðiệp ơi, yêu bao nhiêu khổ lụy cũng bấy nhiêu, càng thương nhớ lại càng nhiều cay đắng. Tình đôi ta vẫn nặng, sao cuộc tình duyên lại sớm chia lìa”.

Hay là qua những câu sau, ta nghe giống như âm điệu của bài văn tế, bài cổ văn với lối văn biền ngẫu của cách hành văn ngày xưa: “Ðiệp ơi, câu ái ân hãy chờ nhau kiếp khác, mối duyên đầu hẹn lại buổi lai sinh. Ðêm nay, khi trước Phật đài vừa dứt mấy hồi kinh, thì hồn Lan cũng vừa lìa bỏ cuộc đời ô trượt. Bởi bao cay đắng đọa đày thể xác, nên ngày nay sức mõi hơi tàn. Chuông chùa nhẹ điểm vang vang như đưa tiễn một linh hồn vừa thoát tục.

Trần gian anh ở em về, 
Tình Lan với Ðiệp đoạn lìa từ đây.” 
(Tình Lan và Ðiệp – Viễn Châu) 

Trong bài Lá bàng rơi, soạn giả gửi lại tâm sự của mình trong cảnh mùa thu qua bốn câu:

Đây có phải quán hàng năm cũ 
Sương mờ giăng bao phủ một phương trời 
Lá bàng rơi, lá bàng rơi 
Chiều nay có kẻ nghẹn lời nhớ thương 

Bài hát tả lại tâm sự của một lữ khách đối với cô gái bán hàng

Cô hàng xinh thật là xinh 
Đôi môi vũng vén, ủ tình làm sao 
Ngỡ ràng trong giấc chiêm bao 
Nguời thiên kẻ tụng cùng nhau nặng nguyền 

Về sau người khách trở lại với quán hàng cũ, nhưng cô gái xinh đẹp năm xưa không còn

Năm sau khách trở lại khi cây bàng thay lá, 
Lòng rộn ràng nhưng dạ lại bâng khuâng, 
Cô hàng đâu sao không thấy đón mừng, 
Lòng rạo rực bổng dưng sầu lạnh buốt. 
… 
Hò… ơ! Con sông sâu bắt cầu không dễ, 
Gặp mặt rồi có thể quên nhau. 
Ngó lên mây trắng trời cao, 
Trăng tàn hoa rụng, hò… ơ 
Trăng tàn hoa rụng, kiếp nào mới nguôi. 
… 
Lá vàng rơi rụng về đâu, 
Lá thu rụng hết, đoạn sầu còn đây. 
(Lá bàng rơi – Viễn Châu) 

Trở về xứ hoa Đào – trong Ai lên xứ hoa Đào – truớc cảnh cũ mà người hẹn năm xưa nay còn đâu, “vắng người thương Đà Lạt cũng âu sầu”

Bướm trắng phương nào bay vẩn vơ 
Trời như thấp xuống đám mây mờ 
Cánh hoa đâu phải là tan vỡ 
Mà để riêng mình đứng ngẩn ngơ 

Xa cách ai mà không nhớ nhung 
Từ đâu thoang thoảng đóa lan rừng 
Trời thu Đà Lạt buồn tê tái 
Vọng cố nhân hề, vọng cố nhân! 

Xác hoa rơi trên lối cũ phải chăng là xác pháo cưới đã tiễn đưa người trong mộng đi về đâu?

Mưa rơi ướt cánh hoa đào, 
Nửa bay trước gió, nửa vào tim tôi. 
(Ai lên xứ hoa đào – Viễn Châu) 

Nơi quán nước bên bến đò đêm tối năm nào, tài tử gặp giai nhân qua âm nhạc: chàng so dây nắn phiếm để dạo đàn cho nàng hát bài ca năm xưa Dạ Cổ Hoài Lang [DCHL].

Mấy cảnh mai vàng mỗi gió thu 
Ðường xa đã mõi gót phong trần 
Bâng khuâng dạo bản đàn năm cũ 
Một chút ân tình gởi cố nhân 

Vài năm sau, người thanh niên trở về bến đò cũ để tìm lại người năm trước – chiếc đò xưa vẫn còn buông neo bên bến Tầm Dương trên giòng Tiền Giang, nhưng cô gái năm xưa đã có chồng và cất tiếng ca buồn não nuột để… ru con

Người yêu nay đã theo chồng... 
Vẫn nhớ bên lòng, bài Dạ Cổ Hoài Lang... 
(Dạ cổ hoài lang – Viễn Châu) 

Uớc mơ của người con gái bán trầu trong bài Lá trầu xanh ta là mong có một tình yêu trọn vẹn tốt đẹp

Thương nhau cau bổ làm đôi miếng 
Một lá trầu xanh thắm nợ duyên 
Cứ mỗi chiều về tan buổi chợ 
Em còn hoài vọng tiếng người thương 

Nhưng có một hôm nàng đợi hoài mà chẳng thấy bóng dáng người yêu và mới biết được là người yêu đã vui vầy duyên mới.

“Anh phụ em rồi, anh không tới nữa, 
Để phiên chợ buồn héo hắt trầu xanh”. 

Mỗi câu trong bài là gợi lên nỗi buồn nặng triểu của người con gái nghèo mà “mười tám xuân xanh đã mang mối tuyệt tình”

Mưa hay lệ rơi hoài trên áo? 
Gió quyện ngàn xác pháo trên sông. 
Thu về rụng lá trầu xanh 
Trầu xanh rụng lá, tình anh hết rồi. 
Một gánh trầu oằn nặng trên vai 
Nhưng gánh nặng u hoài muôn vạn kiếp 
Mưa rơi lạnh buốt khung trời 
Anh phụ em rồi, em còn biết tin ai? 
(Lá trầu xanh – Viễn Châu) 

Một mối tình si thầm lặng của Tình anh bán chiếu đối với người con gái trên Kinh Ngã Bảy Phụng Hiệp

Hò ơ... chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm. 
Công tôi cực lắm, mưa nắng dãi dầu. 
Chiếu này tôi chẳng bán đâu. 
Tìm em không gặp... Hò ơ... 
Tìm em không gặp tôi gối đầu mỗi đêm... 

Sau nầy anh mới biết đuợc người con gái đã theo chồng đã được bốn trăng qua, khiến cõi lòng anh tan nát. Đó là tình yêu vụng trộm lãng mạn của chàng trai quê – chỉ có bài vọng cổ mới hiểu được tình anh bán chiếu đối với người con gái mỹ miều mua chiếu của anh, trên kinh Ngã Bảy

Người ta đã có đôi rồi 
Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung, 
Để mình vác cặp chiếu bông 
Chờ đợi chi nữa uổng công đợi chờ... 
… 
Sông sâu bên lở bên bồi, 
Tình anh bán chiếu trọn đời không phai... 
(Tình anh bán chiếu – Viễn Châu) 

Tình yêu trai gái quê mùa mộc mạc được nghệ sĩ Hữu Phước diễn tả trong cảnh Gánh nước đêm trăng, có sự thơ mộng trong trẻo

Sương thu lạnh bao trùm khắp nẻo, 
Trăng đêm nay dìu dịu cả không gian, 
Tôi với em đi gánh nước cạnh đình làng, 
Mùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắng. 

Những vần thơ trong cải lương về tình yêu của người làng quê e lệ thầm lặng, chất phác như giòng thơ của nhà thơ “chân quê” Nguyễn Bính [CQNB]

Gìn lòng hai chữ ngỡi nhân, 
Yêu ai yêu chỉ một lần mà thôi... 
Em cười em bảo với tôi, 
Thề có đất trời em không phụ anh đâu. 

Đêm gánh nước với nhau cuối cùng, đôi bạn trai gái có lời từ giã cảm động cho nhau

Khăn tay tôi cất (giữ) đem theo, 
Còn in nước mắt bạn nghèo năm xưa... 
Quê người dãi nắng dầm mưa, 
Làm sao quên kẻ sớm trưa đợi chờ. 

Ba năm sau, người con trai trở về xóm cũ, mới hay biết được người con gái phụ tình, lấy chồng “tốt mã giàu sang” ở miền đô thị, để cho người yêu gánh nước “mặt nám da đen” năm xưa buồn bã thẩn thờ, oán trách

Hò ơ... ơ ... 
Ai phụ tôi có đất trời chứng giám... 
Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai... 
Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài... 
Nào hay giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây... 
… 
Ngồi bên bờ giếng một mình, 
Biết ai giải mối hận tình cho tôi... 
(Gánh nước đêm trăng – Viễn Châu) 

Nghe lại những bài hát cải lương này ta mới nhớ lại hình ảnh của quê hương ngày xưa qua cô gái bán trầu xanh, anh bán chiếu và cảnh gánh nước đêm trăng để sống lại năm tháng cũ của cội nguồn với những số phận ngang trái trong những cuộc tình buồn muôn thuở. Trong xã hội tân tiến ngày nay có ai còn ăn trầu, mua chiếu và còn đi gánh nước? Vậy mà những hình ảnh này còn phảng phất trong bài vọng cổ. Cải lương như văn thơ miền Nam: giản dị thoải mái, không sáo và độc nhứt.

Có ai dám nói cải lương thấp kém, không chất lượng ?


<mục lục>


6. Khôi hài & tệ đoan xã hội

Từ thập niên 60 đến 75 có nhiều chuyển biến đáng kể: chiến trường leo thang, cuộc sống đô thị phồn hoa và sự phát triển mạnh mẽ của các bài vọng cổ hài hước. Trong bài Vợ tôi tôi sợ, soạn giả Viễn Châu qua ca sĩ Văn Hường giải thích:

“Có câu trị quốc tề gia, 
Phu phụ thuận hòa thì gia đạo mới yên. 
Tơ hồng, nguyệt lão se duyên, 
Kẻ được vợ hiền, còn người rinh con vợ dữ”. 

Bài hát bắt đầu với điệu tân nhạc (tân cổ giao duyên) nhại theo điệu của bài Never on Sunday, dịch nhạc pop tây phương đương thời vào bài vọng cổ, khiến người nghe thích thú: “Buồn thay vì tôi là thân nam nhi, thân mày râu, thân mày râu, nhưng mà không có quyền trong nhà. Vì thương vợ tôi nên không đôi co, không rầy la, khi cùng nhau, canh không ngon với cơm hổng lành. Bà con gần xa họ không thương tôi, nên cười chê, cho rằng tôi, cho rằng tôi bất tài vô phần. Nào ai hay đâu, thương tôi vợ tôi, thương cành hoa, thương đời hoa, ai nỡ đâu thẳng tay dập vùi.”

Và tiếp tục bằng câu vọng cổ: “Hỡi những bậc nam tử mi tu, hỡi các đấng trượng phu từ thanh niên râu chi ư mấy cụ già lão nhược, hãy đứng lên chung lưng đấu cật, mà cùng nhau sợ vợ cho vui cửa vui ... nhà. Bà con lối xóm họ điệu thì họ kêu mình thương vợ, còn họ ghét thì họ gọi là thờ bà”.

Nghe qua giọng ca độc đáo trầm bổng với tiếng ự… ự, nam giới muốn đứng lên về phía Văn Hường để sát cánh cùng ông sợ vợ. Vào đầu thập niên 60, sợ vợ là một đề tài cấm (tabou), vậy mà chỉ có cải lương mới tiên phong đề cập một cách hài hước. Lẩn quẩn bào chửa vẩn vơ, bài hát giải thích vì sao nam nhi phải sợ vợ:

Nhỏ cũng sợ, mà già cũng sợ, 
Sách có câu, “Sợ vợ mới nên”, 
Tại tôi muốn ăn ở cho đúng sách thánh hiền, 
Chứ thân bảy thước, ai sợ gì phụ nữ. 

Đem kinh nghiệm bản thân, kẻ sợ vợ tâm sự và chia sẻ qua mấy vần thơ trong bài hát

Lỗ đầu gẫm chẳng có sao, 
Băng keo dán lại lấy dầu xức vô, 
Máu ra một lát nó khô, 
Chứ còn cãi lại thì ô hô sập nhà. 
… 
Đàn bà là xếp gia đình, 
Nam tử tụi mình phải rắc rắc tuân theo. 
Sợ nào bằng sợ vợ làm reo, 
Nổi giận nó dám bỏ chèo queo một mình. 

Có thể nói đây là hiện thực phê phán một cách trào lộng! Và cuối cùng bài hát còn kết luận:

Anh Ba ơi! 
Nên hư số hệ nơi trời, 
Vợ mình mình sợ, ai cười mặc ai. 
(Vợ tôi tôi sợ – Viễn châu) 

Cũng cùng đế tài, trong bài Tôi không sợ vợ, tác giả tả lại cảnh người chồng “gọi dạ bảo vâng”

Xin mình nhớ đánh nhẹ tay, 
Đánh mạnh tôi chết còn ai dạ mình. 
… 
Thưở trời đất nổi cơn gió bụi, 
Khách anh hùng còn nặng nợ gian truân. 
Mình ơi có đánh thì đánh ở lưng, 
Đừng đưa chân cẳng đau lòng còn tôi. 

Cuối bài vọng cổ, tác giả còn truyền lại một bí quyết hạnh phúc gia đình 

Thôi mà đừng giận nghe cưng, 
Để anh bắt chí gảy lưng dùm mình. 
Nó liền quay lại cười tình, 
Thế là hết giận gia đình êm vui. 
(Tôi không sợ vợ – Viễn Châu) 

Mượn lời thơ tiếng nhạc, cải lương cho ta mua vui – mặc dầu một cách nhảm nhí nhưng linh động – trong 5, 7 phút (đó là thời gian trung bình của bài hát). Cải lương vọng cổ đã đạt được giá trị giải trí và giá trị văn học trong thi ca... bình dân!

Thập niên 60, với sự viện trợ ồ ạt của Mỹ, xã hội Việt Nam tiếp xúc với văn minh phương Tây một cách nhanh chóng qua các bài hát ngoại quốc và các xe gắn máy Nhật tràn ngập đường phố Sài gòn. Bởi thế mới có nhiều bài hát châm biếm, chỉ trách lối chạy xe ở đây.

Bài vọng cổ hài hước Văn Hường đi xi–ki bắt đầu mấy câu phỏng theo điệu nhạc ngoại quốc Love potion number nine (7) (một bài hát danh tiếng lúc bấy giờ): “Kawasaki, Honda, súppe – xì-po. Đi Yamaha, Suzuki ta cùng đua. Cùng vượt đường xa ta cùng rú ga bay vù vù. Kìa đẹp làm sao mấy cô xăm mình mà cười...”

Ôi rộn ràng vàng tím đỏ xanh 
Cô nào cô nấy hữu tình làm sao 
Tim già bỗng thấy nao nao 
Hồn xuân lai láng ngờ đâu hận tình. 
(Văn Hường đi xi–ki – Viễn châu – Thế Hà Vân, 1967) 

Trong bài Tai nạn Honda có nhắc lại câu quảng cáo của xe Honda phổ biến mà hồi nhỏ tôi từng nghe trên radio nhiều lần: “An toàn trên xa lộ, thanh lịch trong thành phố, bà xả hài lòng”. Bài hát kể lại phong trào chạy xe gắn máy liều mạng của thanh niên thời đó.

Vọng cổ: “Chạy đi, chạy cho hết hồn Lệ Thủy, xanh mặt Mỹ Châu (8), Hoàng Oanh kêu lính bắt, chạy cho cả xứ Việt Nam hoan hô vang dội như vổ tay xem Minh Hiếu, Thanh Nga, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Kim Loan, Tuý Phượng, Kiều Chinh, Bạch Yến, Thanh… ự… Tuyền (9). Là dân chịu chơi nhảy lên Honda là siết ga, nhấc số liền liền.

Rang lên cho đổ mồ hôi, 
Cho người chán ngấy rụng rời tay chân”. 
… 
Vọng cổ: “Siết nữa anh ơi, siết cho Tấn Tài thua bạc, Thành Được đổi xe, Hùng Cường nhảy twist, siết cho Thanh Hải ứa gan, Út Hiền đi lính, Trường Xuân cạo trọc, Thanh Việt để râu, mấy cua rơ ghen tức rược Văn... ự... Hường (10). Siết đã hết ga mà nàng la chưa tới nút, cứ kêu nài thúc dục chừng chừng.”

Thình lình xe sụp ổ gà, 
Cả trăm thiết giáp chạy qua rầm rầm. 
Nhờ nằm dưới bụng xe tăng, 
Cho nên bánh sắt chưa ăn Văn Hường… 

Nghe lại mấy câu nầy nhớ tới cảnh Sài gòn mấy chục năm trước với xe Honda 69 lã lướt và hình ảnh thời chiến với xe tank “thiết vận xa” M113 và xe nhà binh GMC chạy đầy đường. Bài hát còn có câu tả về đường sá Sài gòn thật dí dỏm chính xác và chàng thanh niên đương thời có nhận xét

Nguời ta xuất cảng Hông đa, 
Nước mình chế tạo ổ gà sát nhân. 
… 
Bây giờ tôi ớn da gà, 
Khi gặp ai chạy Hông đa vù vù. 
Biểu diễn lã lướt đến đâu, 
Không vô bịnh viện cũng chầu diêm vương. 
(Tai nạn Honda – Viễn Châu) 

Tôi nhớ lai thời phồn vinh của Sài gòn hồi xưa với máy hát pick–up hiệu Panasonic ở nhà để dùng hát cải lương trong những dĩa hát nhựa 45 tours! Trong bài tân cổ giao duyên Ngày Tôi Đi được bắt đầu bằng điệu tân nhạc phỏng theo bài The longest day. Bài hát nhà binh ngoại quốc này viết ra cho một phim về sự đổ bộ của phe Đồng minh ở Normandy ở Pháp vào thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến. Trong bài vọng cổ này có câu “Ngọc bất trác, bất thành khí, Nhỏ không học, lớn làm Ðại úy...” (11). Qua sự phổ biến rộng rãi của bài vọng cổ, câu này trở thành bất hủ từ những ngày cao điểm của chiến trường Việt Nam.

Nghe lại bài Ráp po Táo Quân làm người ta nhớ lại xã hội Sài gòn và sinh hoạt sân khấu năm Mậu Thân (1968) và xuân Kỷ Dậu (1969)

Đúng ngày hai mươi ba tháng Chạp, 
Thiên đình mở hội, 
Đàn tiên cô đang vũ điệu mê ly, 
Bổng đâu có Táo Cải Lương muốn vào giữa đến kỳ, 
Xin diện kiến với Ngọc hoàng Thượng đế. 

Thời đó phong trào đại nhạc hội, những “show” ca vũ kịch nhạc pha trộn nhiều màn trình diễn chưa từng có từ trước đến bấy giờ

Đó là nạn vũ sết xi (sexy), 
Tổ chức nhạc hội mỗi ngày mỗi đông. 
Áo quần có cũng như không. 
Hở lưng hở ngực hở mông hở đùi. 

Bài hát này còn nhắc lại Sài gòn bắt đầu có siêu thị bán thịt heo thịt gà đông lạnh, phong trào phụ nữ mặc mini jupe, đua xe gắn máy trên xa lộ và mấy cô đào danh tiếng buồn tình thi đua nhau uống ốp-ta-li-đông (12) để tự tử…

(Lại có) tin đồn rằng mấy cái bang, 
Năm nay phải bị rơi ra ngoài đồng. 
Nghe tin như tiếng súng cà nông, 
Mấy cô sờ nách chổng mông kêu trời. 
… 
Hề Ba Hội đã vác áo đi thi hành quân dịch. 
Hề Phúc Lai vẫn cao hai thước tám phân tư. 
Hề Bảy Xê thì ốm nhom nhưng có hơn tám chục ký có dư. 
Còn hề Văn Hường thì gần ba mươi tuổi mà vẫn mồ côi vợ… 

Sân khấu cải lương trên đà phát triển mạnh: “… Hôm nay Sài gòn có phần rộn rịp, Kim Chung một thì đóng đô ở Olympic, còn Hương Mùa Thu thì rạp Nguyễn Văn Hảo, còn Thanh Minh Thanh Nga thì tại rạp Hưng Đạo. Còn Quốc Thanh thì Dạ Lý Hương phất cờ rong chống quyết ăn thua nhau trong dịp Xuân về”

Vui Xuân đón Tết thanh bình, 
Lời chúc chân thành của thần Táo Cải lương. 
(Ráp po Táo Quân – Viễn Châu) 

Đó là những bài vọng cổ có tính đại chúng và thời sự cập nhựt!

Bài vọng cổ còn có diễu về tệ đoan thầy pháp:

Thôi, thôi, bỏ trống, bỏ cờ, bỏ âm binh, thần tướng, 
Thầy hết thời đành giải nghệ cho xong, 
Bỏ đèn nhang, bỏ tiền tổ mấy trăm đồng, 
Bỏ con gà luộc với mâm xôi còn nóng hổi. 
(Pháp sư giải nghệ – Viễn Châu) 

Cải lương còn có chế nhạo tệ đoan đánh Số đề dựa theo xổ số Kiến thiết quốc gia hồi trước. Dựa theo chiêm bao rồi bàn số đề để cờ bạc, cuối cùng cũng thua cháy túi.

Thôi rồi, còn đâu nữa mà chiêm bao mộng mị, 
Thua keo này kể cháy túi, lột lưng. 
Mua con công, xổ số con trùng, 
Ngủ thấy cọp, chiều lại ra heo nái. 
… 
Cờ bạc là bác thằng bần, 
cá đen, cá trắng, thế thần cũng tiêu, 
Đánh nhiều, thời lại thua nhiều, 
ếch tôm, rồng rắn, thảy đều bó tay, 
Bạn bè, bài bạc đổi thay, 
chị Tư ơi, cái thằng tôi xin giã từ. 
Ích gì cái máu bạc bài, 
đầu đuôi chỉ khổ dài dài mà thôi. 
Thần tài giũ sổ tôi rồi, 
tận cùng bằng số hết thời không công. 
(Số đề – Viễn Châu) 

Trong bài Vợ tôi mê tân nhạc, tác giả sửa lời hát trong các bài tân nhạc rồi ghép lại trong bài cải lương, đó là tân cổ giao duyên ở tuyệt đỉnh phát triển phục vụ cho kỷ nghệ giải trí bình dân!

Bài hát bắt đầu bằng đoạn nhạc theo điệu nhạc của bài Que sera sera (13) (What will be will be): “Ngồi buồn giận thay chồng con, vì đâu nợ duyên vì lá lai, oái oăm làm sao, ngày với tối ăn no, rồi đi sáng đêm, em đây mắc công chờ cơm. Anh hổng đưa tiền lương, bởi anh thua hết trơn còn đâu, em chán chê chồng con làm sao, nên năm tháng sầu đau, nên năm tháng sầu đau, nên năm tháng sầu đau...”

Những ai sống ở Sài gòn vào khoảng 1967-1975, không quên những đoạn sau trong bài tân cổ này mà trẻ con hát cùng làng xóm, đường xá
  • “Nhà bên kia có con gà trống gáy, bắt nước sôi bỏ vô rồi thì hết gáy, rạng ngày mai đem xé phai ăn ngon lành.” 
  • “Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua, lắc một cái ra lên con gà mái, thôi hết tiền, thua hết tiền.” 
  • “Em đang đi trên cầu Bông, té xuống sông ướt cái quần ny lông. Dzô đi em, dù trời khuya anh nhớ đưa em về.” (phỏng theo bài “Gạo trắng trăng thanh” của Hoàng Thi Thơ) 
Cũng trong bài vọng cổ này Hòn Vọng Phu được nhại lại: “Đi cho mau không tao sẽ sạch què giò, đi mau mau đừng nên đứng đây chần chờ, mày bây giờ đã hết thương ta, thì cho mày đi lái Honda”.

Cải lương vọng cổ thật là hằm bà lằng thập cẩm! Cải lương hài hước lúc trước không những phi chính trị (apolitical) mà đôi khi còn sai chính trị (politically incorrect) nữa!

Cải lương có tính sắc tộc và đa văn hóa. Nghe Tình Chú Thoòn, người ta cười ra nước mắt: vui cười vì nghe một người Tàu hát cải lương, buồn rơi lệ trước một thảm cảnh gia đình qua cám dổ của đời sống vật chất khi người vợ đã đi “bán bar” làm cho lính Mỹ thời trước
… 
Rồi khi ló (đi) bán nhà hàng, 
Ló sanh ra ăn lói cộc cằn với tôi, 
Tôi la rầy, ló (lại) đòi thôi, 
Bây giờ ló hổng chịu coi tôi là chồng. 
… 
Ngọ muốn quánh một lần cho ló ngán. 
Sợ ông già vợ lói ngọ là vũ phu, 
Nghĩ tình đen tối âm u, 
Nhiều khi ngọ muốn đi tu cho rồi… 

Chú Thoòn còn kể lại về chuyện ông già vợ có khuyên bảo vợ mình: “Dách dạch (nhất nhật) phu thê bá vạn ân. Dách (nhất) dạ tùng (đồng) sàng chung dạ ái. Một ngày nó kêu là tình chồng vợ thì muôn thuở khó phai … tàn”.

Lương Mạnh Thoòn, một chú–Chệt–bán–bò–viên–chuyển–qua–bán–de–chai, là một người chồng tình nghĩa, làm đơn bảo lãnh người vợ Việt sa ngả để tránh cảnh tù đày:
… 
Xin ông cò làm ơn tha tội, 
Cho ló ăn lăn hối lỗi một lần. 
Bây giờ cho tới về sau, 
Ló có bề lào ngọ cho ló chết luôn. 
Ngọ lãnh ló về là thương mấy lứa con, 
Chớ tình Thoòn với Rớt hết còn dây tơ. 
(Tình chú Thoòn – Xuân Phát) 

Trong bài vọng cổ Văn Vĩ đại chiến Văn Hường, người đánh đàn lục huyền cầm và ca sĩ cải lương đố nhau một độ la de (14). Văn Hường bắt đầu đố về đào hát cải lương, có các câu

Đào nào quê ở Tây Ninh? 
Ai ở Sa Đéc, ai miền Cà Mau? 
Đào nào quê ở Vũng Tàu? 
Cô nào Rạch Giá, cô nào Mỹ Tho? 
… 
Văn Vĩ trả lời (cũng qua tiếng hát của Văn Hường) 

Thanh Nga quê ở Tây Ninh, 
Phượng Liên Sa Đéc, Mộng Tuyền (ở) Cà Mau, 
Ngọc Giàu quê ở Vũng Tàu, 
Bạch Tuyết Rạch Giá, (còn) Mỹ Châu (ở) Định Tường. 
… 
Bớ Văn Hường! 
Toa đố mỏa năm câu, mỏa đã lời xuôi dót, 
Chắc toa đã thấy tài đối đáp của moa, 
Bây giờ cho muốn được công bằng thì tới phiên moa, 
Moa đối lại thì toa phải trả lời lập tức! 
… 
Đánh cho đất lở trời long, 
Cho toa phải ngán chư thông của Văn Hường. 

Đố qua đố lại, cuối cùng cuộc thi đố lại huề, cho nên:

Chiều nay ở cuối vệ đường, 
Văn Vĩ, Văn Hường đại chiến với la de. 
(Văn Vĩ đại chiến Văn Hường - Viễn Châu) 

Gần đây tôi có nghe được bài vọng cổ Hiệp sĩ say giải nghệ, bài hát bắt đầu bằng mấy câu thơ ngâm:

Hiu hiu gió thổi đầu non ... 
Mấy thằng (cha) uống rượu là con (của) Ngọc Hoàng. 
Ngọc Hoàng ngự tại đền vàng, 
Thấy con uống rượu hai hàng lụy rơi, 
Tưởng rằng con uống con vui, 
Nào ngờ con uống … con chui (vô) nhị tì ... 

Trích lời cổ nhân, bản vọng cổ còn kể tiếp: “… Vô tửu bất thành lễ, Nam vô tửu như kỳ vô phong, Tửu nhập tâm như hổ nhập tâm” và lý luận rằng: “Rượu nếp gọi là nước mắt quê hương, nó còn quan trọng hơn mấy dì dượng nên được gọi là... là... đế...”

Kẻ uống rượu có nhắc nhở nhau trong bài hát:

Chim khôn chọn cây lành mà đậu, 
Còn gái khôn tựa mấy thằng chồng nhậu mà nhờ 
… 
Bạn ơi, rượu vào, không phải lời ra... 
Lời ra thì ít, mà bị bà con la thì nhiều... 

Rượu vào lời ra, nhậu cho say sưa rồi đâm ra… nói bậy:
… 
Lỗi lầm làm (chín) Lưu Linh, lún lòng lẹo lưỡi lại luôn lỡ lời... 

Và kết cuộc bằng bốn câu thơ lục bát:

Từ rày bỏ thoái ăn chơi, 
Tôi đi làm lại cuộc đời con trai, 
Giã từ nghề hiệp sĩ say, 
Hôm nay tôi bỏ rượu là ngày đăng triều. 
(Hiệp sĩ say giải nghệ) 

Cải lương quả là đùa giởn với văn chương để mua vui cho đuợc một vài trống canh!

oOo

Đề cập phong phú đủ đề tài trong thất tình (15) buồn vui, tân cổ tạp lục: Ai dám bảo cải lương là nhạc sến kém văn hóa?

Tiếng thơ tràn ngập trong bài cải lương vọng cổ và những soạn giả cải lương thành công cũng chính là những nhà thơ lớn. Đó là trường hợp của soạn giả Viễn Châu, Thu An và Kiên Giang Hà Huy Hà... Những câu thơ trích dẫn ở trên đã chứng minh tài nghệ viết bài cải lương và làm thơ của Viễn Châu. Viễn Châu làm thơ trong bài vọng cổ một cách tự nhiên mà điêu luyện cũng như Bùi Giáng nói thơ chảy chuốt trong cuộc sống như giữa giấc mộng, trong cảnh nữa tỉnh nữa điên. Nghe lời thơ trong bài vọng cổ của Thu An ta thấy cảm động sót xa. Còn trong thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà, ta nghe văng vẳng như tiếng ca dao về làng mạc quê hương miền Nam

Ầu ơ ... “Ví dầu cầu ván đóng đinh, 
Cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi. 
Khó đi mượn chén ăn cơm, 
Mượn ve mua rượu (16), mượn đờn kéo chơi”. 
(Cầu Tre - Kiên Giang Hà Huy Hà) 
… 
Hai vai gánh nợ con chồng 
Tay nhen bếp lửa, tay bồng con thơ 
Thở dài theo điệu ầu ơ 
“Lấy chồng xa xứ, bơ vơ một mình”. 
(Dưới giàn mồng tơi - Kiên Giang Hà Huy Hà) 
… 
Ong bầu đậu đọt mù u, 
Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn. 
… 
Đói lòng ăn nửa trái sim, 
Uống lưng bát nước đi tìm người thương. 

Trong tuồng Người Vợ Không Bao Giờ Cưới, người ta mãi nhớ đến Kiên Giang Hà Huy Hà qua hai câu

Ngày mai đám cưới người ta, 
Tại sao sơn nữ Phà Ca lại buồn? 

Các câu thơ trong tuồng Áo Cưới Trước Cổng Chùa của Kiên Giang Hà Huy Hà có một giá trị văn chương độc đáo

Tay bưng quả nếp đi chùa, 
Thắp nhang lạy phật xin bùa cầu duyên. 
Lòng em như đóa hoa sen, 
Nhụy vàng cánh trắng, ủ niềm thanh cao. 
Tóc thề soi bóng nước ao, 
Nghiêng nghiêng nón lá, đón chào tình xuân. 
… 
Thu về bến nước Đông Hồ, 
Nhớ bao kỷ niệm hội chùa tháng giêng, 
Khi lòng ủ kín niềm riêng, 
Gấm hoa bẽn lẽn vô duyên má hồng. 
… 
Ngày mai hết tuổi ngây thơ, 
Không còn ca hát nhởn nhơ nô đùa, 
Lòng bình lặng như biển không nổi sóng, 
Biết rung sợ nhưng chưa rung động 
Khi bắt bướm, lúc thả diều, 
Ngày còn xỏa tóc biết gì yêu đương. 
… 

“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, 
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.” 
Phải chăng em là tiên nữ? 
Tạo thành điển tích Hà tiên (17). 
Em chờ trăng dại thoái lên, 
Biến thành tiên nữ múa trên Đông Hồ. 
Khi sương lạnh lúc trăng mờ, 
Nàng tiên để lại giấc mơ cho người. 
… 
Áo cưới em treo trước cổng chùa, 
Tình đầu trao trả lại người xưa. 
Đời em như cánh phù dung rụng, 
Giữa chợ đời tầm tã gió mưa. 

Nghe cải lương đôi lúc người ta nghĩ là đang thưởng thức kịch thơ như hồi xưa.

oOo 

Qua những bài cải lương xưa, người ta vừa nhớ lại âm điệu cổ nhạc quê hương và vừa được thưởng thức những lời thơ đượm tình xứ sở. Vậy mà những bài cải lương sau này không đạt được mức độ như hồi nào. Tôi nghĩ có hai lý do chính vì sao cải lương không còn phổ biến và hay như trước: đó là môi trường sáng tác, và chất lượng của bài hát hay là khả năng sáng tác của soạn giả.

Môi trường sáng tác: Bản tính của cải lương là tính… cải lương độc đáo – tức hứng (18), tự nhiên nghĩ gì viết nấy và viết theo ý thích của đối tượng. Sự phong phú của cải lương ngày trước là soạn giả hiểu được ý thích của thính giả, đa dạng và mang tính thời sự đại chúng khiến người ta có thể với liên tưởng thế sự diễn ra trước mắt. Để đáp ứng với sở thích khán thính giả, vọng cổ cải lương tự cải tiến, biến hóa không ngừng: từ cổ nhạc thành tân cổ giao duyên, hồ quảng và nhạc hài hước… Cải lương từ sau 1975 đã qua những khuôn khổ kiểm duyệt và thiếu sáng tạo, cộng thêm sự phát triển mạnh của tân nhạc gần đây, môn cổ nhạc này mất đi tính chất quần chúng dần dần mất thị trường và thính giả.

Chất lượng của bài hát: Nếu lời cải lương được viết lên bởi những soạn giả tài ba qua những câu thơ trữ tình, những vần thơ bi lụy bất hủ thì cải lương vẫn còn phát triển. Nhưng nếu cải lương không có một thế đứng kinh tế lành mạnh làm sao nó có thể lôi cuốn được những soạn giả có bản lĩnh? Tôi nghĩ làm ăn sinh sống qua văn nghệ trước, sau mới làm văn hóa trong sân khấu. Nghĩa là: làm sao cho cải lương thu hút được khán giả như thời vàng son thời trước, thì tự nhiên lời viết trong bài cải lương sẽ thâm tuý và xuất sắc. Sự gần gũi của cải lương và thơ có lẽ giải thích tại sao cải lương không còn phổ biến như trước: sự vắng mặt của những sáng tác mới của những nhà-thơ-kiêm-soạn-giả-cải-lương tài nghệ bây giờ.

Những bài sáu câu vọng cổ lừng danh qua sự trình diễn của các ca sĩ tên tuổi đã một thời được lòng ái mộ của thính giả, đó là sự hợp tác hài hoà về tài nghệ của soạn giả lẫn nghệ sĩ – cách đây mấy mươi năm tưởng như là một quá khứ xa vời…

Bạn hẳn biết trong sáu câu vọng cổ, 
Là kết tinh từ đau khổ kiếp văn nhân, 
Là đau thương rung cảm kết nên vần, 
Nhờ phổ biến qua giọng ca truyền cảm. 
… 
Xa xôi gởi đến đôi dòng, 
Sáu câu vọng cổ gửi lòng tri ân. 
(Trên đường lưu diễn – Viễn Châu) 

Nếu cải lương không ngăn được sự suy thoái, không biết mấy mươi năm sau có còn gì để bàn về những tác phẩm và nghệ sĩ của môn nghệ thuật ca hát này?


Lý Hữu Phước


<mục lục>


Tài liệu tham khảo


Tựa bài

Soạn giả Ca sĩ
Ai lên xứ hoa đào Viễn Châu Phượng Liên
Buồng cau quê ngoại Thu An Bạch Tuyết
Dạ cổ hoài lang Viễn Châu Hồng Vân 
Đêm Xuân đợi chàng Viễn Châu Mỹ Châu
Đò chiều biên giới Viễn Châu Minh Cảnh & Út Bạch Lan
Đời  Viễn Châu Văn Hường
Đời mưa gió Viễn Châu Thanh Nga
Đời nghệ sĩ Viễn Châu Hương Lan 
Gánh nước đêm trăng Viễn Châu Hữu Phước 
Hán Đế biệt Chiêu Quân Viễn Châu  
Hiệp sĩ say giải nghệ Giang Châu  
Hận Kinh Kha Viễn Châu Tấn Tài
Hồi chuông Thiên Mụ Viễn Châu Thanh Nga
Khóc Bàng Phi Viễn Châu Tấn Tài
Lá bàng rơi Viễn Châu Hữu Phước
Lá trầu xanh Viễn Châu Lệ Thủy
Mẹ dạy con Viễn Châu Út Bạch Lan
Mưa lạnh Thảo cầm viên Viễn Châu Hữu Phước & Thanh Huyền
Ngày Tôi Đi Viễn Châu Văn Hường
Người đánh đàn trên sông Mỹ Thuận Viễn Châu Thanh Nhàn
Nguyện về cõi Phật Trọng Tâm Thanh Vân
Nhớ Mẹ Viễn Châu Út Bạch Lan
Ông lão lái đò Viễn Châu Út Trà Ôn
Quan Công Tha Tào Tháo Viễn Châu Út Trà Ôn, Văn Hường
Ráp po Táo Quân Viễn Châu Văn Hường
Sầu vương ý nhạc Viễn Châu Thanh Nga
Số đề Viễn Châu Văn Hường
Tai nạn Honda Viễn Châu Văn Hường
Tại tôi tuổi sửu Viễn Châu Văn Hường
Tần Quỳnh khóc bạn Viễn Châu Thanh Hải
Tào Tháo cháy râu Viễn Châu Văn Hường
Tề Thiên Đại Thánh Viễn Châu Văn Hường
Thích Ca tầm đạo Viễn Châu Út Trà Ôn & Ngọc Bích
Tiếng độc huyền trên bắc Cần Thơ Viễn Châu Thanh Nga
Tình anh bán chiếu Viễn Châu Út Trà Ôn
Tình chú Thoòn Xuân Phát  Xuân Phát
Tình Lan và Ðiệp Viễn Châu  Út Bạch Lan 
Tôi không sợ vợ Viễn Châu  Văn Hường
Trên đường lưu diễn Viễn Châu  Minh Cảnh
Trống loạn Thăng Long thành Thu An Út Trà Ôn
Tu là cội phúc Viễn Châu  Minh Cảnh
Văn Hường đi xi-ki Viễn Châu  Văn Hường
Văn Vĩ đại chiến Văn Hường Viễn Châu  Văn Hường
Võ Đông Sơ & Bạch Thu Hà Viễn Châu  Minh Cảnh
Vợ chồng cua
Hữu Phước 
Vợ tôi mê tân nhạc  Viễn Châu  Văn Hường & Mỹ Châu 
Vợ tôi tôi sợ Viễn Châu  Văn Hường
Xuân đất khách Viễn Châu  Hữu Phước 

 Chú thích

[CQNB]
Chân quê – Nguyễn Bính 1936 

Nói ra sợ mất lòng em, 
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa. 
Như hôm em đi lễ chùa, 
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh. 
Hoa chanh nở giữa vườn chanh, 
Thầy u mình với chúng mình chân quê. 

[DCHL] Dạ cổ hoài lang (Đêm xưa nhớ chồng) – Soạn giả Cao Văn Lầu 

Từ là từ phu tướng 
Bảo kiếm sắc phong lên đàng 
Vào ra luống trông tin chàng 
Năm canh mơ màng 
Em luống trông tin chàng 
Ôi gan vàng quặn đau (í a.) 

Đường dù xa ong bướm 
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang 
Ðêm luống trông tin bạn 
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu 
Vọng phu vọng luống trông tin chàng 
Sao nỡ phũ phàng. 

Chàng hỡi chàng có hay 
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây 
Bao thuở đó đây sum vầy 
Duyên sắc cầm đừng lạt phai. 

Là nguyện cho chàng 
Nguyện cho chàng đặng chữ bằng an 
Mau trở lại gia đàng 
Cho én nhạn hiệp đôi (í a). 


[NBCQHD] Nổi buồn Chiêu Quân – Hồ Dzếnh 

Hôm nay em lấy chồng đây, 
Gấp tư tờ lịch nhớ ngày em đi. 
Bây giờ mới biết mình si, 
Đời yêu thêm một bài thi lấy chồng. 
Chúc cho má ấy thêm hồng, 
Cho duyên ấy thấm, cho lòng ấy tươi, 
Chúc cho người ấy quên tôi, 
Yên vui số phận bên đời ẳm con. 
Chiều nào chợt suống hoàng hôn, 
Tôi vời vợi nhớ, đem hồn về mơ, 
Chiêu Quân biệt Hán sang Hồ, 
Có buồn thì cũng như chừng ấy thôi


[PCH] Đời nhà Hán bên Trung Hoa có chàng Tư Mã Tương Như dạo bản “Phượng cầu hoàng” (Chim phượng trống tìm chim hoàng mái),
khiến nàng Trác Văn Quân mê mệt mới bỏ nhà ra đi theo chàng. 


Trong Bích Câu kỳ ngộ có bốn câu tả về nổi lòng của chàng học trò Tú Uyên tương tư nàng tiên nữ Giáng Kiều (câu 167 - 170),
so sánh tình yêu của mình đối với Giáng Kiều như nàng Trác Văn Quân ngày xưa sau khi nghe tiếng đàn của Tư Mã Tương Như 


Có khi gẩy khúc đàn tranh, 
Nước non ngao-ngán ra tình hoài nhân. 
Cầu hoàng tay lựa nên vần, 
Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào. 


Truyện Kiều cũng có hai câu (câu 145 - 146) tả về điển tích này 

Khúc đâu Tư Mã phượng cầu, 
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng! 

(1) Deoxyribo Nucleic Acid - phân tử mang tính di truyền mã hóa 

(2) quận Hốc Môn, Sài gòn

(3) anecdote

(4) Tôi nhớ đến 2 câu thơ trong bài Chạy giặc của cụ Nguyễn Đình Chiểu: 
“Bến Nghé của tiền tan bọt nước. Ðồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

(5) Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà là hai nhân vật trong tiểu thuyết Giọt Máu Chung Tình của nhà văn Tân Dân Tử, xuất bản năm 1954.
Võ Đông Sơ là con của Võ Tánh và Bạch Thu Hà là con của quan Tổng trấn Tây Thành.

(6) trích câu trong Tâm Kinh – bản dịch từ Hrdaya Sùtra của Huyền Trang (năm 649, đời Đường).

(7) do band “The Searchers” trình diễn, Jerry Leiber / Mike Stoller sáng tác

(8) Sau 1975 có cụm từ tả về cảnh học tập cải tạo dài hạn, đó là “mút mùa Lệ Thủy, sát háng Mỹ Châu” – có lẽ là nhại theo câu vọng cổ này.

(9) Các tên nữ ca sĩ danh tiếng thời thập niên 1960. Túy Phượng - nữ hoàng nhạc Twist là một

(10) Tên nam ca sĩ danh tiếng cùng thời đó, với những sở trường của họ - Thành Được hay thay đổi xe hơi, Hùng Cường hát tân nhạc
với Mai Lệ Huyền và nhảy twist !
 
(11) Nhại theo các câu trong Tam Tự Kinh: Ngọc bất trác, bất thành khí; Nhân bất học, bất tri lý: Ngọc chẳng đẻo, chẳng nên đồ.
Người không học, không biết lẽ.

(12) Optalidon là nhãn hiệu thuốc trị nhức đầu mạnh mà người ta uống quá liều để tự tử

(13)do Doris Day ca

(14) tiếng ngày xưa gọi là la de (la bière), ngày nay gọi Ià bia (beer)

(15) thất tìnhhỷ, nộ, ai, ái, ố, cụ, dục - mừng, giận, thương, yêu, ghét, sợ, muốn.

(16) có bản chép “Mượn ghe mua rượu, mượn đờn kéo chơi”

(17)  Hà Tiên, Đông Hồ là các địa danh của tỉnh Kiên Giang, quê hương của soạn giả người Rạch Giá này.

(18)  impromptu
 

<mục lục>