Nhạt nắng

Ðánh đến que diêm thứ hai mươi chín thì Ngân đến. Y như trong truyện cổ tích! Nghiêng đầu nhìn tôi, Ngân nheo nheo mắt sau cặp kính cận:

– Anh đợi Ngân lâu không? Tại métroproblème technique.

Vẫn như ngày xưa, ở Sài Gòn, hơn mười năm trước. Tôi vẫn chờ, táy máy quẹt rồi vứt vung vãi những que diêm cháy ngún quanh chỗ ngồi. Ngân vẫn đến trễ, không bao giờ xin lỗi và viện dẫn ra một cái cớ nào đó, rất là… không chính đáng! Ngân kéo ghế ngồi xuống bên tôi, mái tóc dài hất qua một bên vai:

– Ðừng có quạu! Anh kêu dùm Ngân ly nước cam đi.

– Ngân gọi đi. Thằng bồi liếc ngang liếc dọc anh từ cả tiếng đồng hồ rồi, bây giờ anh gọi, chắc nó không đến đâu!

– Ai biểu anh đã không kêu nước uống, còn xả rác tùm lum làm chi!

Tức cành hông! Ai biểu? Chẳng lẽ bây giờ tôi lại phun ra: anh muốn chờ Ngân… Nhưng cái cục tự ái đã kịp thời chặn lại ngang cổ. Trời ơi! Hơn mười năm rồi mà Ngân vẫn mãi là một con bé ngang bướng, và tôi, vẫn chưa thoát khỏi những dằn dỗi trẻ con. Bình tĩnh! Bình tĩnh! Gần bốn mươi tuổi đầu, già rồi chứ còn nhỏ nhít gì nữa đâu! Nuốt đánh ực xuống cái cục tự ái, tôi cố dịu giọng, và pha trò:

– Anh hết xu rồi, đợi Ngân đến gọi cà-phê để còn trả tiền dùm anh nữa chứ!

Ngân chẳng những không cười mà lại nhìn tôi, cái nhìn thật sâu, rồi chép miệng:

– Anh cứ làm như hồi xưa…

Hồi xưa của Ngân và tôi không có công chúa với hoàng tử. Chỉ có một con bé học sinh nhỏng nhảnh và một thằng sinh viên kiến trúc nghèo kiết xác. Cũng không có bà tiên hay ông bụt. Thay vào đó là những thùng quà thơm mùi tư bản mà gia đình con bé nhận được đều đặn mỗi tháng và món tiền thường niên mà anh thằng sinh viên ở trời xa ky cóp chắt chiu từng đồng một để gửi về. Cũng đủ để dệt nên một chuyện tình thơ mộng. Không có lâu đài tráng lệ, chẳng có rừng già âm u. Ðiểm hẹn mỗi ngày là cái quán cóc ven đường nằm xeo xéo trường Kiến trúc. Thằng sinh viên ngồi đó đốt diêm chờ con bé đến sau giờ tan học. Thường thì đầu tháng, với chút lương sinh viên còm, hắn đủ sức mỗi ngày bao con bé một ly cam vắt và tự thưởng cho mình hai tách cà-phê. Chỉ vừa đúng một tuần. Ba tuần còn lại, con bé thầu hết. Ðôi lần hắn dợm muốn bán mười mấy ký gạo và mớ nhu yếu phẩm cho đám con buôn chợ đen để có thêm chút tiền. Ai đời đi cua đào mà lại để cho đào bao! Mất mặt bầu cua thấy mồ! Nhưng rồi nghĩ đến mẹ thức khuya dậy sớm với sạp hàng ngoài chợ, đến con em thèm thuồng một chiếc áo mới, đến ông anh ở xa ngày đi học, tối tối lặn hụp bên đống chén đĩa nhà hàng, chà chà rửa rửa, hắn lại thôi. Mấy thằng bạn thân tán: mày hên, tu mấy kiếp mới vớ được con bồ vừa đẹp người vừa đẹp địa. Lũ xấu bụng trong lớp xì xào: đúng là chuột xa chĩnh gạo, cái mồm nó nhọn hoắt, đào mỏ nghề thiệt! Vân vân và vân vân. Dù được khen hay bị chê, hắn vẫn tức anh ách. Có muốn như thế đâu! Chẳng hiểu có phải nguyên nhân từ cái chuyện ngược đời đó hay không mà hắn đâm ra mẫn cảm, hay dằn dỗi, còn con bé thì càng lúc càng tai quái ngược ngạo, thích châm chọc và lâu lâu tặng cho hắn một cú đau điếng. Vô tình hay cố ý, hắn không cảm nhận ra điều ấy. Hắn đang bận điên, bận khùng, bận cuồng lên vì yêu. Vì ghen. Ghen với đám bạn trai học chung với con bé mà hắn đã có lần đụng độ. Ghen với ông thầy dạy văn đẹp trai có giọng nói mê hồn nào đó mà con bé vẫn hay nhắc đến. Và hắn đã bắt đầu lẩm cẩm ghen với thằng bạn cùng lớp ở chung xóm nhà con bé. Ði đâu, hắn cũng sẵn sàng giương lên cặp mắt nghi ngờ, như muốn soi thủng để tìm cho ra những ý nghĩ tối ám nằm sâu trong óc, trong đầu mấy thằng đàn ông lượn lờ quanh con bé. Còn con bé cứ thản nhiên cười, thản nhiên nói, thản nhiên trêu chọc. Thản nhiên làm cho hắn giận đùng đùng bỏ đi ngày hôm trước và thản nhiên tấp xe đạp vào lề, đặt mông ngồi xà xuống cạnh hắn bên cái bàn xếp thấp lè tè của quán cóc ven đường ngày hôm sau. Con bé đã thản nhiên chi địa, thản nhiên nhìn hắn si, hắn ghen, hắn chờ đợi, hắn quẹt diêm, hắn dằn dỗi như thế đâu được gần hai năm. Rồi một hôm, con bé đi. Vượt biên. Và thản nhiên gửi lại lời nhắn qua miệng bà chị họ, đại loại: "Hẹn ngày tái ngộ!". Con bé cất bước, phủi tay, để lại sau lưng những tàn tro của cuộc tình vãi tung ra, tứ tán. Hắn cũng rã ra, nhưng không bay lửng lơ theo gió mà rơi xuống cái hố đặc đen tuyệt vọng. Ở đó lổn nhổn thuốc ngủ và râu ria, tóc tai bờm xờm và áo quần hôi hám. Ở đó, hắn thấy mình nhếch nhác, mặt mày héo hon, mắt mũi ngơ ngác, chân tay lòng thòng như một con ma lai, nhiều lúc muốn rút ruột ra mà chết cho rồi! Cứ như vậy, hắn bềnh bồng trong cơn mê hoảng thừa sống thiếu chết suốt hai tháng trời. Và để cuối cùng nhận ra rằng, con bé không yêu hắn, đến với hắn chỉ với một dụng ý duy nhất là để vui chơi cười cợt. Rồi thôi. Chấm hết. Không, con bé còn muốn để lại những dấu chấm lửng trong hắn với một thùng quà nhận được sau đó khoảng một năm, không địa chỉ người gửi. Rồi lại bặt tin…

– Rồi anh có tính kêu nước không đây? Thằng bồi lăm lăm cuốn sổ trong tay đứng kế bên anh cả mười phút rồi kìa!

Câu nói với những chữ cuối đãi dài ngoằng ra của Ngân kéo tôi trở về với hè phố Paris. Ừ, thì một ly cam vắt với một tách cà-phê. Tôi nhìn Ngân, chợt liên tưởng đến mấy câu thơ của Trần Mộng Tú:

Anh bây giờ đã khác

Trán đã hằn nếp nhăn

Em bây giờ cũng khác

Má đã phai sắc hồng…

Trán tôi có nhăn thật, nhưng Ngân trước mặt son phấn đằm thắm như đoá hoa mãn khai, làm sao tôi biết em có còn hây hây má hồng như thời con gái? Tôi hỏi Ngân một câu, chẳng ăn nhập gì đến những suy nghĩ trong đầu:

– Ngân hẹn anh đến đây có chuyện gì vậy?

– Bí mật!

– Vừa phải thôi chứ! Trong điện thoại, Ngân nói "bí mật", nghe còn lọt lỗ tai, còn kích thích cái tính tò mò của anh. Chứ đến đây rồi mà còn bí mật nữa, nghĩa là làm sao?

Cũng vẫn cái nheo nheo con mắt trái trêu ngươi. Cũng vẫn cái nghiêng đầu, tóc hàng hàng chảy đổ bên bờ vai phải. Ngân cười cười:

– Làm gì mà dữ vậy? Anh cái tật Trương Phi đánh… bủm phì phì hoài chưa có bỏ!

Mà tôi nóng thật! Với ai kia, tôi còn kiên nhẫn, chứ với Ngân, câu trước câu sau là máu nóng đã rần rật bốc lên đầu rồi!

– Ngân đã biết vậy sao còn hay chọc tức anh? Ngân nghĩ coi, đã bốn, năm năm không liên lạc, đùng một cái, Ngân gọi đến nhà, đòi gặp mặt gấp. Anh cứ lo lắng trong bụng từ hôm qua đến giờ, không biết có chuyện gì quan trọng, vậy mà Ngân cứ cà rỡn… Y như là con nít!

– Anh có lớn hơn hồi xưa chút nào không mà đòi…

Ðến mức này nữa thì tôi nghẹn họng. Chẳng lẽ lại đấm tay xuống bàn đánh xầm một cái cho tung toé ly tách rồi một mạch đứng dậy quay lưng xách xe đi thẳng như ngày xưa? Tợp một cái hết cả cái chất cà-phê đắng nghét – lại quên bỏ đường, rõ khổ – tôi dằn mạnh cái tách xuống mặt bàn. Chẳng hiểu cái đường nứt mờ mờ nâu trên nền sứ trắng có dài thêm chút nào không. Mặc kệ! Ðang bực mình. Im. Không nói nữa!

– Ngân xin lỗi anh, đừng có giận nữa mà! Ngân muốn gặp để khen truyện ngắn mới viết của anh.

Trời đất ơi! Tôi có nghe lầm không? Ngân mở miệng xin lỗi, và còn nhắc đến những truyện ngắn của tôi?

– Ngân thích nhân vật Ngọc Uyên …

Tôi chợt đỏ mặt tía tai. Ngân khen, Ngân bỡn cợt, hay Ngân đang mỉa mai tôi đây? Những nhân vật nữ. Của tôi. Sadique, khinh người, tự mãn, hời hợt, lăng loàn, thù ghét và lợi dụng đàn ông. Những nhân vật hư cấu ấy là muôn ngàn mảnh nhỏ của chiếc gương vỡ, chiếc gương đã ít nhất một lần soi lấy bóng dáng Ngân. Tôi giật mình tự hỏi, chẳng lẽ mình hèn mọn đến mức đó sao, chẳng lẽ trong vô thức, tôi đã dựng nên trong truyện những người con gái mang hơi hướm của Ngân, để rồi hằn học trả thù, chà đạp và vỗ tay kêu gào đắc thắng. Cái thằng tôi thú tính, cái thằng tôi thù dai như đỉa, cái thằng tôi không biết làm gì hơn là giày vò cái bóng của người mình yêu… Cúi gầm xuống nhìn những vằn vện của mặt bàn giả đá hoa cương, tôi lúng búng đánh trống lảng:

– Sao Ngân biết anh viết lách?

– Tình cờ, thấy tên anh trong mục lục một tờ báo, tò mò mua đọc thử, thích rồi cứ từ đó theo dõi hoài. Mà… Ngân hỏi thiệt, bộ anh giận Ngân lắm hả?

– Tại sao Ngân lại hỏi vậy?

– Ngân nhìn thấy mình trong ngôn từ, trong dáng vẻ và cách cư xử của các nhân vật nữ của anh. Anh giúp Ngân hiểu về mình nhiều hơn, thiệt đó! Nhưng mà, sao Ngân cứ tội tội cho họ. Ngân nghĩ chắc anh giận Ngân lắm nên mới giành cho họ những phần số nghiệt ngã như vậy…

Tránh tia nhìn của Ngân, tôi chống chế. Yếu xìu.

– Ngân đừng có nói bậy. Tại anh theo trường phái misogyne, và cứ muốn thắt nút mở nút hoài hoài trong truyện, dầm tiêu mắm tỏi ớt cho thêm phần éo le gay cấn, nên rốt cuộc… Nhưng mà trong truyện của anh, có thằng đàn ông nào được hạnh phúc trọn vẹn đâu, hay nói đúng hơn, có thằng đàn ông nào hạnh phúc đâu…

– Anh có đang hạnh phúc không?

Giọng nói của Ngân cho tôi biết, ít ra đây không phải là một lời bỡn cợt. Cũng không phải là một cái bẫy.

– Anh đang có công việc vững chắc. Anh đang yêu quý vợ con anh. Ngân có nghĩ như vậy là anh đang hạnh phúc không?

Ngân chịu đựng cái nhìn của tôi vài giây rồi cúi xuống chớp mắt. Tôi nhìn ra đường. Buổi chiều mùa hè, bảy giờ còn chói nắng. Ðại lộ Saint Michel vắng bóng những cô cậu sinh viên trẻ trung nhốn nháo, thay vào đó là khách du lịch từ tứ phương đổ về, lấp đầy chỗ trống. Paris có khi nào mà lại không ồn ào náo động. Những luồng người dời đổi, thay chỗ, chồng chất lên nhau, nhịp nhàng ăn khớp với từng mùa, từng đổi thay của thời tiết, và cả từng biến động. Mà ở đâu chẳng thế. Những chỗ ngồi của Ngân và tôi ngày xưa bên hè phố Sài Gòn chắc hẳn cũng đã có những số phận riêng của chúng. Thay cho Ngân và tôi là những cặp tình nhân khác, những gã sinh viên khác, những cô bé đỏng đảnh khác, những người Sài Gòn hay không-phải-Sài Gòn khác đến, ngồi xuống, gọi nước uống, tâm tình, suy tư, nhìn thiên hạ qua lại, rồi đứng dậy, đi. Hay biết đâu, đã không còn quán hàng, lề đường đã trồng hoa, trồng cỏ, xoá hết những dấu tích của một thời? Tôi chưa có dịp trở về để nhìn lại hè phố cũ. Ngân, hình như cũng vậy. Hiện giờ, chúng tôi đang ngồi đây, biết đâu lại đúng vào vị trí ngày xưa Cung Trầm Tưởng cùng người em gác trọ tóc vàng sợi nhỏ đã đến ngồi tán gẫu, ngắm người ngắm phố, tình tự và hôn nhau… Có lẽ Ngân đã quên, hay không muốn trả lời câu hỏi của tôi. Ngân im lặng. Cái im lặng đồng tình? Cái im lặng phản đối? Hay cái im lặng hoang mang, không biết trả lời sao cho hợp lý? Tôi không để Ngân im lặng lâu hơn.

– Nhưng… Ngân hẹn gặp chỉ để khen truyện của anh thôi sao?

Ngân nhìn tôi, con mắt đăm đắm sau lần kính loá nắng. Con mắt không nheo, con mắt không cười. Con mắt buốt lạnh như viên đạn đồng đen.

– Ngân mới ra toà ly dị hôm qua.

Vậy mà tôi đang thiếu điều vỗ ngực tự nhận mình đang hạnh phúc! Ðồ tồi! Ðồ vô liêm sỉ! Tôi hình dung ngay ra người đàn ông của Ngân. To cao, đẹp trai. Ít ra cũng hơn được tôi ở hai điểm ấy! Chúng tôi gặp nhau ở chợ Tàu. Sau khoảng một giây ngỡ ngàng, Ngân thản nhiên (thản nhiên hay vội vã?) tuôn ra một tràng: đây là chồng em, đây là bạn cũ của em ở Sài Gòn, chị đây hả anh, trời ơi, cháu bé dễ thương quá, mấy tuổi rồi con, anh chị lập gia đình lâu chưa, tụi em mới có một năm, còn là vợ chồng son đó, trời ơi, mừng quá, đúng là trái đất tròn… Tôi thì quay cuồng trong cơn lốc những câu hỏi tối tăm mặt mũi của Ngân. Và tôi cũng không rõ mình đã trả lời ra sao, đã nói những gì. Tôi chỉ nhớ đã giương mắt mở trừng nhìn người đàn ông của Ngân. Ðể biết, lần này mình thực sự thua cuộc. Thêm dăm ba câu xã giao, chúng tôi cũng trao đổi được cho nhau số điện thoại, rồi chia tay. Con của tôi cứ léo nhéo suốt ngày hôm ấy: cô Ngân đẹp quá há bố, cô Ngân dễ thương ghê, cho con cục kẹo ngon ơi là ngon! Vợ tôi buồn buồn, uể oải. Tôi biết vợ tôi ghen ngầm khi nhìn thấy cái thần sắc ngẩn ngơ của tôi lúc gặp lại Ngân. Nhưng độ một tuần sau, đâu lại vào đấy. Cũng giống như khi người ta lôi quần áo cũ ra soạn lại để cho hội hồng thập tự, có thể tần ngần mươi mười lăm phút trước một chiếc áo gợi nhớ vài kỷ niệm, rồi khẽ thở dài, gấp lại, bỏ qua một bên, quên đi. Sống quay cuồng vội vã ở chốn này, hiện tại còn không có thì giờ và đầu óc để nhớ, nói gì đến kỷ niệm! Tôi quên bẵng Ngân đi. Số điện thoại ghi vội trong sổ tay nằm yên ở đó. Năm năm cộng với thêm năm năm nữa, con người ta già thêm, chai sạn thêm, những giọt tình cảm dường như cũng khô đi, hoá đá. Tôi cần cù đi làm, yêu vợ, thương con, thỉnh thoảng viết lách lăng nhăng để hưởng cái thú làm ông trời nhỏ, xây dựng rồi đập phá các nhân vật của mình, miệt thị những nhân vật nữ, dằn vặt những nhân vật nam, rồi xoa tay tự đắc nghĩ rằng mình đang hạnh phúc nhất đời trong cái vỏ kén hiện tại. Còn Ngân vẫn chăm chú theo dõi những sinh hoạt của tôi, thầm lặng, ở một góc nào đó của thành phố này. Nhìn sang Ngân, con bé đỏng đảnh tôi yêu điên yêu mê ngày nào, bây giờ ngồi đó, rưng rưng. Thiên hạ, có ai vui vẻ đâu khi lôi nhau ra toà ly dị. Tôi không muốn đào sâu thêm vào nỗi buồn của Ngân, cũng chẳng muốn buông ra một câu an ủi phải phép. Tôi nắm lấy bàn tay đặt hờ hững trên mặt bàn.

– Anh có thể giúp gì được cho Ngân không?

Bàn tay Ngân khô cứng. Tôi có cảm tưởng mình đang cầm một bàn tay hình nhân, bằng nhựa, bằng gỗ, bằng kim loại hay bằng một chất nào đó, không phải thịt da con người. Bàn tay vô cảm nằm yên, không phản ứng, không rung động. Và tôi hiểu Ngân không chờ đợi gì ở tôi cả. Như ngày xưa.

– Không. Cám ơn anh. Ngân chỉ muốn báo cho anh biết, vậy thôi!

Tôi bỗng cảm thấy hơi bực mình vì bị mất phương hướng. Và vì không biết phải ứng xử như thế nào. Tôi sẽ nói gì với Ngân bây giờ đây để tiếp tục câu chuyện? Lúng túng xoay xoay cái tách cà phê. Tìm ý.

– Anh còn nhớ anh Nghĩa không?

Nghĩa. Nhớ chứ. Nhưng cứ giả nai. Và mừng vì Ngân mở lối, chuyển câu chuyện sang một hướng khác.

– Nghĩa nào?

– Thì anh Nghĩa học cùng lớp kiến trúc A80 với anh đó!

– À, nhớ rồi. Ở chung xóm với Ngân chứ gì! Hồi đó anh ghen với nó muốn chết!

– Chuyện cũ rích mà sao anh cứ nhắc lại hoài ! Ngân mới gặp lại ảnh hồi năm ngoái đó.

Nghĩa cũng lưu lạc đến đây à? Mà tại sao không? Tôi nhớ có nghe loáng thoáng đâu đó nó có bà chị du học ở Âu châu từ trước năm bảy mươi lăm. Biết đâu bà chị tốt số và tốt bụng đó đã bảo lãnh cho gia đình nó sang đây? Thì mừng cho nó chứ sao!

– Anh Nghĩa thay đổi nhiều lắm, Ngân nhận không muốn ra!

Tôi mường tượng một Nghĩa "bột", trắng trẻo, nhút nhát của mười mấy năm về trước. Con nhà lành. Lạc lõng đến tội nghiệp giữa cái đám sinh viên kiến trúc quỷ quái chúng tôi. Nhưng lại có nhiều hoa tay và sáng kiến nhất lớp. Nhìn bài vẽ của nó, đứa nào cũng mê. Ðâu ra đó. Ðủ cả tiêu chuẩn kỹ thuật lẫn nghệ thuật, lại luôn luôn nộp bài đúng ngày. Và điều kỳ lạ nhất mà không đứa nào trong lớp hiểu nổi là chuyện Nghĩa đi đến đâu cũng có một lũ đệ tử lớp dưới xúm đen xúm đỏ vào, sẵn sàng làm nègre không công, thức ngày thức đêm phụ nó chấm cỏ, kẻ chữ hay tô bóng. Tôi cứ nghĩ giản dị, ừ, thì chắc kiếp trước nó tu đúng đường nên kiếp này được hưởng, miễn nó đừng có xớ rớ đến gần Ngân của tôi là tốt rồi! Nhưng thật ra, Nghĩa hiền và tốt bụng, rất tốt bụng. Trong cái thời buổi khó khăn, khi mà đứa sinh viên kiến trúc nào cũng quý mực như quý máu, quý bút chì như quý xương, Nghĩa sẵn sàng cho bạn bè mượn dụng cụ, và luôn luôn tặng thêm một nụ cười. Vậy mà cũng có đứa ghét, nói xỏ xiên cái đồ đạo đức giả, cái mặt con nhà giàu làm phách… Tôi với Nghĩa, tính ra sau mấy năm học chung, chẳng ơn chẳng oán, chỉ phải tội cái thằng tôi thời đó hay đem cây si tới trồng trước cửa nhà Ngân, thỉnh thoảng lại gặp Nghĩa cười cười đạp xe ngang qua để về nhà ở cuối xóm, đâm ra ghen sảng, cứ canh me theo rình coi lửa gần rơm có bén hay không. Cho tới ngày Ngân đi. Tôi chúi thẳng từ đám mây ngũ sắc xuống đất rắn, không dù, không nịt dây an toàn khi hạ cánh. Và chẳng còn ai để rình, để ghen, để cáu sườn. Như con kỳ nhông, tôi chuyển hẳn từ màu đỏ rần rật sang xanh lè xanh lét, lơ mơ học, lơ mơ chơi, rồi cầm mảnh bằng tốt nghiệp lơ mơ bước vào đời. Tôi quên bẵng Nghĩa đi cùng với ông thầy dạy văn và đám bạn trai chung lớp của Ngân, như quên đi những phụ tùng nhỏ nhặt, những đôi bông tai à la mode, chiếc kẹp tóc ngoại, dây chuyền với thánh giá bằng gỗ, ngón tay út bàn tay trái có đeo nhẫn mặt ngọc đỏ… Quên đi, tôi muốn quên đi, tôi cố quên đi, và quên đi thật. Nhưng xểnh một cái, như lúc này đây, những chi li vụt vặt của bao nhiêu ngày tháng cũ cứ ào ạt đổ về, không cách gì kềm giữ được. Ra tôi vẫn còn nhớ về Ngân nhiều hơn tôi tưởng, nhưng có lẽ là Ngân của Sài Gòn mười mấy năm trước, không phải là Ngân đang ngồi cùng tôi lúc này, bên hè phố Paris đang dần nhạt nắng.

– Nghĩa lúc này mập ốm thế nào? Ngân mà còn không nhận ra ông hàng xóm cũ, chắc dám có ngày anh đập lộn với thằng bạn xưa học cùng lớp mà không biết lắm à!

– Anh này, lúc nào cũng cà rỡn không hà! Hung hăng con bọ xít vừa vừa thôi chứ, già rồi, coi chừng có ngày đứt gân!

Rồi làm như bị cụt hứng, Ngân im bặt. Tôi phải gợi lại câu hỏi:

– Ngân thấy Nghĩa thay đổi nhiều lắm hả?

– Gần như hoàn toàn, gần như là một người khác trùng tên trùng họ vậy đó! Anh Nghĩa bây giờ chững chạc, ra dáng đàn ông lắm, lại còn có vẻ playboy nữa mới lạ chớ!

Nghe như có sự khen ngợi trong giọng nói. Tôi bắt đầu nong nóng hai vành tai và ngưa ngứa ở đầu mũi. Ừ, thì hơn mười năm rồi, thằng con trai nào mà chẳng trở thành đàn ông, chẳng phong trần hơn xưa? Còn Nghĩa "bột" hay Nghĩa playboy thì mắc mớ gì mà Ngân ca tụng hắn trước mặt tôi? Tôi tung liền độc chưởng. Nước trị lửa, mưa trị nắng.

– Còn anh thì sao, có thay đổi nhiều không?

– Không, Ngân thấy anh vẫn vậy. Nói cho đúng ra thì già đi, thường người ta bớt khùng, bớt ngông hơn, phải không?

Ngân nhìn tôi, nụ cười trêu chọc. Như thách thức. Như coi thường độc chưởng đã bị quái chiêu hạ sát ván. Ngân muốn gì ở tôi? Có phải Ngân đem Nghĩa ra để làm một thứ thuốc thử, một loại phong vũ biểu dò xét nắng-mưa-tôi? Cứ đùa cợt tôi đi em, cứ hành hạ tôi đi em, năm năm mới có được một lần, đừng bỏ lỡ dịp, uổng lắm!

– Nếu như Ngân nói Ngân yêu anh Nghĩa, anh nghĩ sao?

Quả bom nổ toác. Lá bài lật ngửa. Hay vẫn là một động tác giả? Ðối thủ lừa bóng. Mục đích vẫn là để sút vào gôn, ăn điểm, chiến thắng. Nhưng kẻ lừa được hả hê hơn nhiều và kẻ bị lừa cay cú gấp bội. Tôi thận trọng bước vào bãi mìn. Dò dẫm.

– Nghĩa hồi đó dễ thương. Nghĩa bây giờ…, Ngân biết rành hơn anh. Ngân yêu Nghĩa, pourquoi pas?

– Nhưng, anh có ok không?

– Anh đâu có phải là bố già hay vú em của Ngân đâu mà gật hay lắc. Vả lại, có gật hay lắc thì cũng vậy thôi, có bao giờ Ngân thèm chiều theo ý anh đâu!

– Còn anh, từ hồi đó tới giờ, anh có chịu nhường Ngân một tiếng nào đâu, toàn là ăn miếng trả miếng không hà!

Giọng nói phụng phịu hờn dỗi. Cái giọng nói mà đáng lẽ tôi phải được nghe từ ngày xưa, cái thời của con bé nhỏng nhảnh và thằng sinh viên nghèo kiết xác. Nhưng không, đây là lần đầu, lần đầu tôi thấy Ngân yếu ớt, đáng thương. Có phải vì tôi vẫn còn đầy mặc cảm tự ti, có phải vì Ngân mãi mãi thản nhiên, kiêu ngạo, hay vì những khoảng thời gian năm mười năm không gặp dài dặc quá, chúng tôi không ở gần để thấy nhau dần trưởng thành, dần thay đổi, mà vẫn giữ mãi trong trí nhớ những cố tật meo mốc của nhau? Hay, như người ta thường nói, Ngân và tôi khắc khẩu, trong bụng ngọt ngào, nhưng lời nói hễ tuôn ra khỏi miệng thì toàn chua cay chát đắng? Bỗng chốc, tôi quên hết những móng vuốt, những gai nhọn phòng thủ.

– Anh xin lỗi Ngân. Xin lỗi em.

Ngân nhìn tôi, con mắt có những riềm mi ươn ướt. Vì nước mắt hay vì mascara? Không biết. Nhưng tôi chợt nhận ra, cái bóng ma dĩ vãng đã ám ảnh, dằn vặt, đã đè nặng trĩu tâm hồn tôi từ bao năm nay không cách gì trừ giải, bỗng chốc tan biến. Như một cái phẩy tay. Như khói. Như gió. Giây phút này, Ngân có đang ngộ, có đang thay đổi như tôi đang, hay không?

Có tiếng còi xe, hai lần. Ngân đứng vụt dậy.

– Ngân có hẹn, phải đi đây. Anh ráng giữ gìn sức khỏe, và nhớ viết cho đều. Ngân sẽ luôn là độc giả trung thành của anh. Bye.

Tôi nhìn theo cái dáng hấp tấp của Ngân. Tôi nhìn theo chiếc BMW xám bạc cho đến khi nó biến mất sau góc quẹo trái. Như những dấu tích cuối cùng của Ngân. Như một thùng quà không địa chỉ người gửi.

Mặt trời đã khuất hẳn sau dãy nhà bên kia sông, nhưng những tia nắng leo lét vẫn làm hửng được bầu trời mùa hạ còn đang rất xanh. Paris dọn dẹp những bận bịu của một ngày vất vả để chuẩn bị những rộn rã cho một đêm hội hoa đăng. Tôi thì không. Tôi còn bận đi tìm những ẩn ngữ mà Ngân đã để lại. Vì người đàn ông ngồi bên Ngân trong xe tóc màu hạt dẻ. Vì đó không phải là Nghĩa.

Tôi bảo đảm. Không phải là Nghĩa.

 

Cổ Ngư

PARIS 12.1998